1. Truyền thuyết hoa đào miền Bắc
Ngày xưa, tại khu vực phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào cổ thụ mọc lên từ lâu. Cành lá cây đào tươi tốt, vươn rộng, tạo nên một bóng râm bao trùm cả một khu vực lớn. Hai vị thần Trà và Uất Lũy sống trên cây đào khổng lồ này, sử dụng uy quyền của mình để bảo vệ dân chúng khắp nơi.
Vào thời kỳ đó, những con quỷ dữ hay ma quái không thể đến gần mà không bị hai vị thần này trừng phạt. Chính vì vậy, ma quỷ rất sợ hãi uy lực của các vị thần, thậm chí sợ cả cây đào. Chỉ cần nhìn thấy cành hoa đào là chúng ngay lập tức chạy trốn.
Đến cuối năm, hai vị thần Trà và Uất Lũy cũng phải lên thiên đình để hầu Ngọc Hoàng. Trong những ngày Tết, khi các thần vắng mặt, ma quỷ lại hoành hành. Để ngăn chặn chúng, người dân đã cắt cành hoa đào về cắm trong lọ, hoặc nếu không có cành đào, họ sẽ vẽ hình hai vị thần và dán ở cột trước nhà để xua đuổi ma quỷ. Đây chính là nguồn gốc của truyền thuyết hoa đào.
Nguồn: Sưu tầm

2. Truyền thuyết hoa mai vàng miền Nam
Ngày xưa, có một cô gái tên Mai, con của một thợ săn dũng cảm. Khi mười bốn tuổi, cô đã được cha đào tạo trở thành một nữ chiến binh lừng lẫy với kỹ năng võ thuật xuất sắc. Một ngày, khi một con yêu tinh đến quấy phá một làng, dân làng treo thưởng lớn cho ai tiêu diệt được yêu tinh. Hai cha con đã ra tay, và sau khi chiến thắng, danh tiếng của họ vang dội khắp nơi.
Không lâu sau, người cha bị bệnh nặng, sức khỏe suy giảm. Lúc này, cô con gái đã trưởng thành và sức khỏe cùng kỹ năng võ thuật ngày càng tăng. Khi yêu tinh rắn xuất hiện ở vùng khác, dân làng nhờ hai cha con ra tay. Trước khi lên đường, mẹ cô may cho cô một bộ đồ gấm vàng và cô hứa sẽ mặc nó khi trở về để mẹ nhận ra. Hai cha con vượt núi băng suối để tìm và tiêu diệt yêu tinh. Dù người cha yếu không thể giúp, cô gái vẫn đánh bại yêu tinh, nhưng đáng tiếc, trước khi chết, yêu tinh đã dùng đuôi siết chết cô gái.
Trước sự đau lòng của mẹ cô và tấm lòng dũng cảm của cô gái, ông Táo đã xin Ngọc Hoàng cho cô sống lại trong chín ngày để trở về với gia đình (từ 28 tháng Chạp đến mồng 6 Tết). Sau khi gia đình cô qua đời, cô hóa thành một cây hoa bên ngôi miếu mà dân làng lập để thờ cúng. Cây hoa vàng trổ bông suốt chín ngày Tết, nên dân làng gọi nó là hoa mai và mang nhánh về trồng khắp nơi để trừ tà, xua đuổi ma quỷ, và mang lại may mắn mỗi dịp xuân về.

3. Truyền thuyết cây nêu ngày Tết
Ngày xưa, không rõ từ khi nào và bằng cách nào, Quỷ đã chiếm đoạt toàn bộ đất nước. Người chỉ còn biết sống nhờ và làm việc trên đất của Quỷ, mà yêu cầu ngày càng tăng lên, gấp đôi và ngày càng nhiều. Cuối cùng, Quỷ áp đặt một quy định mới: “Ăn ngọn cho gốc”. Người không chịu, và Quỷ dùng sức mạnh bắt buộc Người phải tuân theo. Vì vậy, sau vụ gặt năm đó, Người chỉ còn lại rạ rơm, trong khi cảnh tượng xương bọc da lan tràn khắp nơi bên cạnh những con Quỷ đắc ý.
Phật từ phương Tây đến, quyết định giúp đỡ Người chống lại sự áp bức tàn nhẫn của Quỷ. Sau vụ mùa, Phật chỉ cho Người không trồng lúa mà thay vào đó là trồng khoai lang. Quỷ không ngờ Người đã có kế hoạch chống lại mình và vẫn giữ quy định như mùa trước: “Ăn ngọn cho gốc”.
Trong mùa thu hoạch, Quỷ tức tối khi thấy khoai lang chất đầy nhà Người, trong khi nhà mình chỉ toàn dây và lá khoai không ăn được. Nhưng theo quy định, Quỷ không thể phản đối. Sang mùa sau, Quỷ thay đổi quy định thành “Ăn gốc cho ngọn”. Phật lại chỉ cho Người trồng lúa, và Quỷ lại thất bại khi lúa vàng về nhà Người, còn rạ thì để lại cho Quỷ. Quỷ giận dữ và tuyên bố “Ăn cả gốc lẫn ngọn”. Lần này, Phật đưa cho Người hạt giống cây ngô để trồng khắp nơi.
Trong mùa đó, Người vui mừng khi thấy công sức của mình không uổng phí: ngô chất đầy nhà, trong khi Quỷ chỉ còn lại chút ít. Quỷ tức giận và quyết định lấy lại toàn bộ đất đai, nhưng Phật thương tình, đề nghị với Quỷ một thỏa thuận: Người sẽ trồng một cây tre với một chiếc áo cà sa trên ngọn. Đất mà bóng áo cà sa che phủ sẽ thuộc về Người. Quỷ ban đầu không đồng ý nhưng sau khi tính toán thấy ít đất mà giá hời nên đồng ý.
Khi cây tre lớn lên, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa ra thành một miếng vải tròn. Cây tre tiếp tục mọc lên, bóng áo cà sa ngày càng mở rộng. Quỷ không thể chống đỡ và cuối cùng phải chạy ra biển Đông, từ đó được gọi là Quỷ Đông. Quỷ rất tức giận, triệu tập binh mã để cướp lại đất, nhưng Phật đã giúp Người chống lại quân Quỷ bằng cách sử dụng hoa quả, oản chuối, cơm nắm, trứng luộc, và các loại gia vị như máu chó, tỏi, vôi bột để đẩy lùi quân Quỷ.
Cuối cùng, Quỷ phải rút lui ra biển Đông, và để xin được vào đất liền vài ngày mỗi năm, Quỷ phải rập đầu cầu xin. Từ đó, vào ngày Tết Nguyên Đán, người ta trồng cây nêu để đuổi Quỷ, treo khánh đất, bó lá dứa hoặc cành đa để Quỷ sợ và không dám vào nơi người đang ở. Cũng trên cây nêu, người ta vẽ hình cung tên hướng về phía Đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ. Có câu ca dao:
Cành đa lá dứa treo kiêu (cao)
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì Quỷ lại ra.
Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm
Ngày xưa, người ta còn tin rằng khi cần đuổi quỷ, như khi có dịch tễ, thì treo một nắm lá dứa ở trước ngõ hay vẩy máu chó khắp nơi để Quỷ không quấy phá. Đàn bà thường buộc tỏi vào giải yếm cũng có mục đích tương tự.
Nguồn: Sưu tầm

4. Mùa Xuân đã đến
- Mùa xuân đã đến rồi! - Sóc cha reo lên khi bước ra khỏi hang.
- Con hãy mặc bộ áo đẹp nhất để cùng bố mẹ tham gia hội hoa đầu năm nhé!
- Sóc mẹ nói với Sóc con.
Hội hoa thật rực rỡ. Sóc mẹ chọn một cành đào, Sóc bố chọn hoa phong lan. Sóc con ngắm nhìn từng loại hoa, tất cả đều rất đẹp. Sóc con phân vân không biết chọn loại hoa nào... Sóc mẹ nhìn con âu yếm:
- Con muốn chọn hoa nào?
Sóc con do dự một chút rồi thì thầm bên tai mẹ:
- Con có thể chọn hạt dẻ không mẹ? Nhà mình sắp hết hạt dẻ rồi!
Mẹ suy nghĩ một lát rồi mỉm cười gật đầu nói:
- Được rồi, chúng ta sẽ mang hoa và hạt dẻ về nhà, cùng trang trí nhà cửa thật đẹp để chào đón mùa xuân.
Nguồn: Sưu tầm

5. Chiếc áo mùa xuân
Vào những ngày đông giá lạnh, khi tuyết phủ trắng xóa, Thỏ mẹ và Thỏ con đều khoác trên mình bộ áo lông trắng muốt.
Nhưng khi mùa xuân đến, Thỏ con vẫn giữ nguyên chiếc áo lông trắng. Trong khi đó, cô Gà Gô đã khoác lên mình bộ áo hoa rực rỡ, bởi mùa xuân làm cho cánh đồng tràn ngập sắc hoa đỏ và lá xanh. Ngược lại, vào mùa đông, tuyết phủ trắng xóa khiến việc mặc áo trắng trở nên thuận lợi hơn cho việc ẩn mình!
Khi đến bên hồ, Nhái Bén vừa thức dậy, cả người sáng xanh như lá cỏ. Cả những anh Châu Chấu cũng đã thay áo mùa xuân mới: Anh nào thích nhảy trên cỏ thì chọn áo xanh, còn anh nào thích nhảy trên đất thì chọn áo nâu.
Nhìn thấy Thỏ con, Châu Chấu không nhịn được cười:
- Ha ha! Mùa xuân rồi mà vẫn giữ áo lông trắng, đúng là Thỏ ngốc nghếch!
Thỏ con xấu hổ, chạy vội về nhà và yêu cầu mẹ phải thay áo cho mình. Thỏ mẹ cười và nói:
- Con hãy nhìn vào gương xem.
Thật kỳ lạ, trong gương, Thỏ con thấy mình đã mọc nhiều lông màu xám. Thỏ vui mừng reo lên:
- A! Con đã mặc được áo mùa xuân rồi, mẹ ạ!
Chỉ vài ngày sau, cả hai mẹ con nhà Thỏ đều đã thay hết lông và khoác lên mình bộ áo mùa xuân mới.
Nguồn: Sưu tầm

7. Nàng tiên mùa xuân
Trong khu vườn hoa, mỗi loài hoa đều tự cho mình là đẹp nhất. Hoa Hồng kiêu hãnh nói:
- Nếu không có tớ, vườn hoa sẽ không còn vẻ đẹp nào nữa.
Hoa Lay-ơn đáp lại:
- Nếu không có tớ, chẳng ai đến đây để thưởng thức vẻ đẹp của hoa.
Hoa Vi-ô-lét cũng không chịu thua:
- Vườn hoa mới đẹp nhờ có tớ! Bộ cánh tím và dáng vẻ mềm mại của tớ thực sự tuyệt vời.
Hoa Huệ, Hoa Cúc, Hoa Thược Dược, và Hoa Đồng Tiền... cũng góp mặt trong cuộc tranh luận, làm cho khu vườn trở nên ồn ào. Chỉ có một cái cây đứng im lặng trong góc vườn, với những cành nhỏ màu nâu và ít lá xanh. Các bông hoa nhìn cây và nói:
- Cái cây khẳng khiu này chẳng có hoa gì cả.
Và từ đó, cái cây ở góc vườn không còn ai nhắc đến nữa.
Vào sáng Ba mươi Tết, cô chủ bước vào vườn và nói:
- Xin chào các bông hoa của mùa xuân!
Cả vườn hoa xôn xao, háo hức, mỗi bông hoa đều hướng về phía cô chủ, mong được chọn để trưng bày trong dịp Tết. Nhưng lạ thay, cô chủ lại chạy về phía góc vườn và reo lên:
- Ôi, cây đào đẹp quá!
Các loại hoa bỗng nhận ra rằng cái cây khẳng khiu trước kia giờ đây đã khoác lên mình một bộ áo tuyệt đẹp, với hàng nghìn bông hoa hồng xinh xắn đang nở rộ trong ánh nắng xuân ấm áp.
Các loài hoa hỏi Hoa Đào:
- Bạn đã làm thế nào để có những bông hoa đẹp đến vậy?
Hoa Đào nhẹ nhàng trả lời:
- Đó là nhờ sự chăm sóc từ Đất mẹ, sự ôm ấp của mưa nắng bốn mùa và bàn tay chăm sóc của cô chủ.
Cô chủ tiếp lời:
- Đó còn là nhờ sự khiêm nhường, giản dị và lòng kiên trì của Hoa Đào, dù phải chịu đựng gió lạnh và sương sa. Hoa Đào đã dành cả năm để dâng tặng sắc hương mùa xuân cho chúng ta.
Bây giờ, các loài hoa đã hiểu ra. Chúng cảm thấy xấu hổ vì thái độ trước đây và nói:
- Hoa Đào ơi, chúng tớ có thể cùng bạn góp mặt trong ngày Tết không?
Hoa Đào và cô chủ vui vẻ đáp:
- Tất nhiên rồi! Nào các bạn, chúng ta cùng đón chào năm mới nhé!
Cả vườn hoa bừng lên sắc hương rực rỡ để chào đón mùa xuân.
Nguồn: Sưu tầm

7. Truyền thuyết về lì xì trẻ em ngày Tết
Truyền thuyết về bao lì xì ngày Tết có nguồn gốc từ Trung Hoa, bắt đầu từ câu chuyện về việc trẻ em bị quái vật tấn công.
Ngày xưa, có một con yêu quái tên là Sui, mỗi đêm giao thừa thường xoa đầu các đứa trẻ đang ngủ, khiến chúng tỉnh dậy, hoảng sợ và khóc lớn. Sau đó, trẻ em sẽ bị đau đầu, sốt cao và nói lảm nhảm; khi các triệu chứng này biến mất, chúng trở nên ngu ngốc hơn. Vì vậy, các gia đình có con nhỏ phải thức suốt đêm để canh giữ không cho yêu quái Sui tấn công con cái của họ. Đây chính là nguồn gốc của phong tục thức đêm vào giao thừa.
Có một gia đình họ Quan, ngoài 50 tuổi mới có con trai, nên rất yêu quý đứa bé. Vào một dịp Tết, 8 vị tiên đã đến báo rằng cậu bé sẽ gặp nguy hiểm từ yêu quái. Nhận thấy gia đình họ Quan có tấm lòng tốt, thường xuyên giúp đỡ người khác, 8 vị tiên đã biến thành 8 đồng tiền và dặn dò cha mẹ cậu bé cách bảo vệ. Đêm giao thừa, khi Sui định xoa đầu cậu bé thì bỗng nhiên 8 đồng tiền đặt trong phong bì đỏ bên cạnh gối cậu bé phát ra ánh sáng mạnh, khiến yêu quái hoảng sợ và bỏ chạy.
Từ đó, truyền thuyết về 8 đồng tiền trong phong bì đỏ lan rộng, mọi người bắt đầu làm theo vào mỗi dịp Tết. Sau này, phong bì đã thay thế phong bì đỏ và phong tục này trở thành tập tục mừng tuổi trẻ em mỗi dịp Tết.
Nguồn: Sưu tầm

8. Truyền thuyết về ngày Tết
Ngày xưa, khi con người chưa biết đến cách tính thời gian hay tuổi tác, ở một vương quốc có một nhà vua nổi tiếng thông minh và tài đức. Đất nước của ông thịnh vượng, dân chúng sống hạnh phúc.
Vào một dịp vui, nhà vua quyết định ban thưởng cho người già nhất trong vương quốc. Tuy nhiên, không có làng nào xác định được người già nhất. Thấy vậy, nhà vua đã cử một đoàn sứ giả đi tìm các vị thần để hỏi cách xác định người già nhất.
Đoàn sứ giả lên đường và gặp Thần Sông, người mặc áo trắng và tóc mềm như nước. Khi được hỏi, Thần Sông lắc đầu và chỉ tay về phía mẹ của mình, Thần Biển Cả, và nói:
– Ta ở đây lâu nhưng vẫn không bằng mẹ ta. Hãy đến hỏi mẹ ta, Thần Biển Cả.
Thần Biển Cả, mặc áo xanh biếc, đang ru con bằng âm thanh sóng vỗ. Khi được hỏi, Thần Biển chỉ tay lên ngọn núi xa và nói:
– Hãy hỏi Thần Núi, Thần Núi còn có tuổi lâu hơn cả ta. Khi ta lớn lên, Thần Núi đã già rồi.
Đoàn sứ giả đến gặp Thần Núi, người có làn da xanh vì rêu, và Thần Núi chỉ tay lên trời và nói:
– Hãy hỏi Thần Mặt Trời. Khi ta mới ra đời, ta đã phải nhắm mắt vì ánh nắng của Thần. Thần Mặt Trời còn có tuổi thọ dài hơn cả ta.
Vì không thể đến được chỗ Thần Mặt Trời, đoàn sứ giả thất vọng quay về. Trong một khu rừng, họ gặp một bà lão ngồi bên cây hoa đào với vẻ mặt buồn rầu. Đoàn sứ giả hỏi bà lão:
– Thưa cụ, tại sao cụ lại ngồi đây?
Bà lão đáp:
– Tôi đến đây để hái hoa đào. Ngày trước, khi con tôi đi xa, cây đào này đang nở hoa. Mỗi lần hoa đào nở, tôi lại ra hái một bông để nhớ về con tôi.
Nhận thấy ý tưởng, đoàn sứ giả xin phép trở lại kinh đô.
Họ báo cho vua về bà lão hái hoa đào và cách tính tuổi con người: mỗi lần hoa đào nở, tính một tuổi. Sau này, người ta đã biết rằng mỗi chu kỳ hoa đào nở tương đương với mười hai lần trăng tròn và khuyết.
Nhà vua, khi tìm ra cách tính tuổi, rất vui mừng và nhớ đến bà lão. Ông ra lệnh cho tổ chức lễ hội ba ngày ba đêm mỗi khi hoa đào nở, và phong tục này trở thành Tết, một truyền thống được duy trì đến tận bây giờ.
Nguồn: Sưu tầm

9. Truyền thuyết về bánh chưng và bánh dày
Ngày xưa, vào thời vua Hùng Vương thứ 6, sau khi chiến thắng quân Ân, vua quyết định truyền ngôi cho con trai. Nhân dịp đầu năm mới, vua triệu tập các hoàng tử và tuyên bố: 'Ai tìm được món ăn ngon nhất để dâng lên, ta sẽ truyền ngôi cho người đó.'
Các hoàng tử thi nhau mang đến những món ăn quý hiếm, mong muốn giành được ngai vàng. Trong khi đó, hoàng tử thứ 18 của vua Hùng, Tiết Liêu (còn gọi là Lang Liêu), người có tính cách hiền lành, đạo đức và hiếu thảo, lại lo lắng vì không biết làm món gì do thiếu sự hướng dẫn của mẹ đã qua đời sớm.
Tiết Liêu tỉnh dậy và vui mừng. Ông làm theo chỉ dẫn của Thần, chọn gạo nếp làm bánh vuông gọi là Bánh Chưng để tượng trưng cho Đất và làm bánh tròn gọi là Bánh Dày để tượng trưng cho Trời. Lá xanh bọc ngoài và nhân bên trong bánh thể hiện tình thương của cha mẹ đối với con cái.
Vào ngày hội, các hoàng tử đều dâng những món ăn phong phú và tinh tế. Nhưng Tiết Liêu chỉ có Bánh Dày và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương thắc mắc, Tiết Liêu liền kể lại giấc mơ và giải thích ý nghĩa của những món bánh. Vua nếm thử và thấy bánh không chỉ ngon mà còn có ý nghĩa sâu sắc, bèn truyền ngôi cho Tiết Liêu. Từ đó, vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán, người dân làm Bánh Chưng và Bánh Dày để dâng cúng tổ tiên và Trời Đất.
Nguồn: Sưu tầm

10. Truyền thuyết về mùa xuân
Bé có bao giờ tự hỏi vì sao mùa Xuân lại đem đến nhiều hoa nở rộ khắp nơi không? Xưa kia, không hề có mùa Xuân đâu bé ạ. Một năm chỉ có ba mùa: mùa Hạ, mùa Thu, và mùa Đông. Mùa Xuân chỉ xuất hiện khi có một cầu vồng nhiều màu sắc hiện ra và tất cả các loài hoa cùng đồng loạt nở.
Cầu vồng chỉ xuất hiện vào mùa Hạ, khi mặt trời xuất hiện sau cơn mưa. Còn hoa thì nở rải rác quanh năm, khắp nơi trên trái đất, không thể đồng loạt nở được. Chính vì thế, sau mùa Đông lạnh giá, thời tiết chuyển sang mùa Hạ oi ả khiến cho muôn loài cảm thấy khổ sở. Mọi người đều mong mỏi có một mùa ấm áp, và ai cũng ước ao được đón chào mùa Xuân.
Có một chú Thỏ sống trong khu rừng xanh với mẹ. Mỗi khi mùa chuyển giao, mẹ của Thỏ lại bị ốm. Xót xa cho mẹ, Thỏ con bèn bàn với bác Khỉ già thông thái:
– Bác Khỉ ơi, sao chúng ta không cùng nhau tạo ra một chiếc cầu vồng thật đẹp để đón mùa Xuân về với chúng ta?
– Nhưng chúng ta sẽ làm thế nào? – Bác Khỉ già thắc mắc.
– Cháu sẽ mời các bạn trong rừng đóng góp những chiếc lông đẹp nhất để làm một chiếc cầu vồng nhiều màu sắc.
Bác Khỉ đồng ý. Tin tức lan truyền khắp nơi, các loài động vật trong rừng đều muốn đón chào mùa Xuân ấm áp, nên vui vẻ đóng góp những màu sắc rực rỡ. Gấu cho màu nâu, Hươu sao góp màu vàng, Sóc thêm màu xám… Các loài chim như Công, Vẹt, Vành Khuyên cũng gửi lông sặc sỡ. Cá Chép mang đến một túi đầy vây cá lấp lánh. Chim Sâu khéo tay bắt đầu kết nối các mảng màu để làm cầu vồng.
Trong khi đó, Thỏ đi khắp nơi để tìm các loài hoa. Thỏ băng qua nhiều khu rừng để gặp từng loại hoa, thuyết phục chúng đồng loạt nở khi mùa Xuân đến. Cảm động trước lòng hiếu thảo của Thỏ, các loài hoa đồng ý sẽ tích tụ dưỡng chất để chờ chị Gió báo tin cùng nhau nở.
Vào một sáng cuối mùa Đông, chim Sâu đã hoàn thành chiếc cầu vồng. Chiếc cầu vồng xuất hiện, làm cho muôn loài trên mặt đất xôn xao. Chị Gió nhanh chóng báo tin cho các loài hoa. Như đã hẹn, các nụ hoa đồng loạt nở, tạo nên một cảnh tượng sắc màu rực rỡ. Mùa Xuân đã đến với trái đất. Từ đó, trên trái đất có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Các loài hoa đều khoe sắc khi gió xuân nhẹ nhàng thổi về.
Chú Thỏ đáng yêu được mùa Xuân tặng một chiếc áo trắng tinh, mềm mại vì lòng hiếu thảo và sự đoàn kết của mình cùng các bạn muông thú và các loài hoa để đón mùa Xuân.
Nguồn: Sưu tầm

