1. Vua Hùng Vương
Vua Hùng Vương là vị vua đầu tiên của dân tộc Việt Nam, được coi là tổ tiên của người Việt. Ông được tôn vinh là vị vua hiền lành và thông thái, đã đóng góp lớn vào việc lập nên nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Theo truyền thuyết, ông đã thống nhất bộ lạc, lập ra nước Văn Lang và lấy làm quốc hiệu là Xích Quỷ. Vua Hùng Vương được tôn vinh và thờ cúng trong lịch sử và truyền thống dân tộc Việt Nam.

2. Cha Francisco de Pina - Cha sáng lập chữ quốc ngữ Việt Nam
Cha Francisco de Pina (1585 - 1625) là một giáo sĩ Công giáo người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên, đến Macau học tập một năm và được gửi đến Đàng trong năm 1617. Ngài là vị Linh mục đầu tiên nói thạo tiếng Việt, là người có công đầu trong việc phổ cập chữ quốc ngữ cho người Việt.
Địa bàn mục vụ của Ngài trải dài từ Hội An vào đến Quy Nhơn. Cha Francisco de Pina hy sinh trong vụ đắm tàu ở biển Đà Nẵng ngày 15 tháng 12 năm 1625 khi cố gắng cứu sống người trên tàu bị đắm.


3. Danh nhân Hàn Thuyên
Hàn Thuyên, hay còn gọi là Nguyễn Thuyên, xuất thân từ làng Lai Hạ, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là xã Lai Hạ, huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1247, làm tới chức Thượng thư Bộ Hình dưới thời Trần Nhân Tông.
Hàn Thuyên được biết đến với tài năng thơ Nôm và là người pionner trong việc phát triển, phổ biến chữ Nôm tại Việt Nam. Ông là người đầu tiên áp dụng luật thơ Đường vào thơ Nôm, từ đó mà thơ Nôm được gọi theo luật Đường là Hàn luật.
Đóng góp của Hàn Thuyên mở ra một hướng mới trong việc phát triển văn học viết bằng chữ Nôm, với sự đề cao bản sắc dân tộc. Với những đóng góp ấy, Hàn Thuyên được coi là một nhà văn hóa đáng nhớ.

4. Nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu
Bà sinh tên là Hà Thị Năm, ra đời vào năm 1917 tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, trong một dòng dõi nghệ nhân hát xẩm kéo dài ba thế hệ. Cha của bà là một nghệ nhân xẩm mù. Khi bà lên 11, cha mất, và bà cùng mẹ rời Nam Định, đến thôn Quảng Phúc, xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để sinh sống.
Đến khi bà 8 tuổi, bà đã bắt đầu kinh doanh hát xẩm, dạo chợ khắp nơi cùng bố mẹ để kiếm sống. Sau đó, gia đình định cư ở Yên Mô (Ninh Bình), và hai mẹ con bà đã được ông trùm xẩm Chánh Trương Mậu dạy hát tại nhà ông, người hiện là trưởng sáu gánh hát ở Ninh Bình. Khi bà 16 tuổi, bà trở thành vợ thứ 18 của ông trùm xẩm Nguyễn Văn Mậu.
Bà qua đời vào ngày 03 tháng 03 năm 2013 tại nhà riêng ở xã Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình, thọ 97 tuổi.
Năm 1977, sau khi Việt Nam thống nhất, bà viết bài “Theo Đảng trọn đời”. Sau đó, bà tham gia nhiều hội diễn văn nghệ trên toàn quốc, nhận được nhiều huy chương và giải thưởng. Trong giai đoạn 1981 - 1982, bà được Nhạc viện Hà Nội mời tham gia phụ trách chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V.
Năm 2008, Nghệ nhân Hà Thị Cầu được trao giải thưởng Đào Tấn, là giải thưởng danh giá dành cho những người đã đóng góp trong việc bảo tồn nghệ thuật dân tộc.
Âm nhạc xẩm cùng với giọng hát của bà là di sản quý báu của nghệ thuật xẩm. Bà được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian vào ngày 25 tháng 12 năm 2004 và được Nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.
Bà đã nỗ lực đề xuất cho UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cần được bảo tồn khẩn cấp.
Theo nhạc sĩ Quang Long, Nghệ nhân Hà Thị Cầu là một bức tranh sống về nghệ thuật hát xẩm. Cuộc sống của bà giống như một con tằm đã hoàn thành sứ mạng của mình. Mặc dù không có ruộng đất, không có lương hưu, bà vẫn sống trong cảnh khó khăn như khi còn mang con đi hát xẩm khắp mọi miền đất nước, bà vẫn tồn tại nhờ vào tình thương yêu và sự giúp đỡ từ những người yêu mến giọng hát của bà.


5. Cha Alexandre de Rhodes (A-lịch-son Đắc Lộ)
Cha Alexandre de Rhodes (A-lịch-son Đắc Lộ) sinh tại Avignon trong lãnh địa của Giáo Hoàng năm 1593 (có tài liệu ghi là 1591). Cha gia nhập dòng Tên tại Roma năm 1612; được phụ phong linh mục năm 1618; năm sau (1619), Cha lên thuyền từ Lisbonne đi Đông Dương và đến Ma Cao năm 1623. Ngày 27-12-1624, Cha Đắc Lộ theo Cha Gabriel de Mattos vào hoạt động tại Đàng Trong, Việt Nam. Ngày 12-3-1627, Cha Đắc Lộ cùng với Cha Phêrô Marques xuống tàu rời Ma cao đi Đàng Ngoài. Tàu gặp bão lớn đánh giạt vào Cửa Bạng – Thanh Hoá đúng vào ngày Lễ Thánh Cả Giuse 19-3-1627. Đây là mốc điểm đánh dấu sự khai mở công cuộc truyền giáo chính thức tại Việt Nam. Cuối năm 1645, Cha lên tàu đi châu Âu để thảo luận về tương lai công cuộc truyền giáo Việt Nam. Sau đó, Cha được sát nhập vào đoàn truyền giáo dòng Tên của Ba Tư, cư ngụ tại Ispahan cho đến lúc qua đời vào ngày 5 tháng 11 năm 1660.
Cha Alexandre de Rhodes là một trong những vị thừa sai đầu tiên đặt nền móng xây dựng Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam, trở thành một trong những tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn tại Việt Nam cho tới ngày hôm nay. Cùng với Cha Francisco de Pina, thì Cha Alexandre de Rhodes cũng được coi là người có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển chữ quốc ngữ tại Việt Nam. Bằng chứng là chỉ bốn tháng sau khi đến Việt Nam Cha đã có thể giải tội bặng tiếng việt, thông thạo ngôn ngữ bản địa, đặc biệt hơn bằng chữ viết mới này Cha đã biên soạn ra cuốn 'Phép giảng tám ngày' để dạy giáo lý cho người dân Việt Nam.


6. Nhà thơ Tố Hữu
Tố Hữu hay Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 tại làng Phù Lai, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế). Tinh thần vàng của quê hương, nhà thơ Tố Hữu đã làm nên tài năng.
Thơ của ông là biểu tượng của nền văn học cách mạng Việt Nam (Trần Ðình Sử). Trong đó phản ánh rõ triết lý nghệ thuật cách mạng. Ông là người mở đầu cho thơ cách mạng Việt Nam thế kỷ 20. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm:
- Tập thơ đầu tay với 71 bài, sáng tác trong 10 năm (1936 - 1946).
- Tập thơ Việt Bắc chủ yếu trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), gồm tổng cộng 24 bài (trong đó có 06 bài dịch, 03 bài sáng tác sau 1954).
- Tập thơ Ra Trận với 31 bài, sáng tác trong 10 năm chống Mỹ (1962 - 1971).
- Tập thơ Một Tiếng Đờn với 72 bài, xuất bản năm 1993; được giải thưởng của Asian.


