Bậc tài danh (chữ Hán: 探花) là một danh hiệu cao quý trong học vị Tiến sĩ thuộc hệ thống khoa bảng Nho học thời phong kiến ở các nước Đông Á.
Tại Việt Nam, danh hiệu này được trao trong kỳ thi Đình, được gọi là Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh. Người đỗ bậc tài danh đứng thứ ba trong tam khôi (sau trạng nguyên và bảng nhãn).
Các bậc tài danh tại Việt Nam
- Vương Hữu Phùng, đỗ bậc tài danh năm 1246, là người đầu tiên đạt danh hiệu này
- Đặng Ma La, đỗ bậc tài danh năm 1247, là người trẻ nhất đạt danh hiệu này
- Trần Uyên, đỗ bậc tài danh năm 1256
- Hạ Nghi, đỗ bậc tài danh năm 1266
- Quách Nhẫn, đỗ bậc tài danh năm 1275
- Trương Phóng, đỗ bậc tài danh năm 1304
- Trần Đình Thâm, đỗ bậc tài danh năm 1374
- Lương Như Hộc, đỗ bậc tài danh năm 1442
- Chu Thiêm Uy, đỗ bậc tài danh năm 1448
- Quách Đình Bảo, đỗ bậc tài danh năm 1463
- Vương Khắc Thuật, đỗ bậc tài danh năm 1472
- Cao Quýnh, đỗ bậc tài danh năm 1475
- Lê Ninh, đỗ bậc tài danh năm 1478
- Nguyễn Doãn Địch, đỗ bậc tài danh năm 1481
- Mai Duy Tinh, đỗ bậc tài danh năm 1484
- Thân Cảnh Vân, đỗ bậc tài danh năm 1487
- Lưu Thư Ngạn, đỗ bậc tài danh năm 1490
- Lê Hùng, đỗ bậc tài danh năm 1493
- Đinh Lưu, đỗ bậc tài danh năm 1496
- Nguyễn Khắc Kiệm, đỗ bậc tài danh năm 1499
- Nguyễn Văn Thái, đỗ bậc tài danh năm 1502
- Trần Phỉ, đỗ bậc tài danh năm 1505
- Nguyễn Hữu Nghiêm, đỗ bậc tài danh năm 1508
- Vũ Duy Chu, đỗ bậc tài danh năm 1511
- Hoàng Minh Tá, đỗ bậc tài danh năm 1514
- Lưu Khải Chuyên, đỗ bậc tài danh năm 1518
- Nguyễn Quán Đạo, đỗ bậc tài danh năm 1523
- Lưu Doãn Trung, đỗ bậc tài danh năm 1526
- Nguyễn Văn Huy, đỗ bậc tài danh năm 1529
- Ngô Sơn Khoái, đỗ bậc tài danh năm 1532
- Nguyễn Thừa Hưu, đỗ bậc tài danh năm 1535
- Hoàng Sâm, đỗ bậc tài danh năm 1538
- Nguyễn Thế Lộc, đỗ bậc tài danh năm 1541
- Nguyễn Tế, đỗ bậc tài danh năm 1547
- Nguyễn Minh Dương, đỗ bậc tài danh năm 1550
- Trần Vĩnh Tuy, đỗ bậc tài danh năm 1553
- Phan Tất Thông, Đệ nhất giáp tài danh năm 1554
- Nguyễn Nghiêu Tá, đỗ bậc tài danh năm 1556
- Đặng Thì Thố, đỗ bậc tài danh năm 1559
- Ngô Khuê, đỗ bậc tài danh năm 1562
- Vũ Hữu Chính, đỗ bậc tài danh năm 1568
- Nguyễn Cung, đỗ bậc tài danh năm 1571
- Vũ Văn Khuê, đỗ bậc tài danh năm 1574
- Phạm Gia Môn, đỗ bậc tài danh năm 1577
- Đỗ Cung, đỗ bậc tài danh năm 1580
- Nguyễn Tuấn Ngạn, đỗ bậc tài danh năm 1583
- Nguyễn Giáo Phương, đỗ bậc tài danh năm 1586
- Giang Văn Minh (1573 - 1638), đỗ bậc tài danh lúc 56 tuổi, là người lớn tuổi nhất đạt danh hiệu này, làm quan đến Thái bộc tự khanh
- Nguyễn Minh Triết, đỗ bậc tài danh năm 1631
- Nguyễn Thế Khanh, đỗ bậc tài danh năm 1637
- Nguyễn Đăng Cảo, đỗ bậc tài danh năm 1646
- Khương Thế Hiền, đỗ bậc tài danh năm 1650
- Nguyễn Văn Thực, đỗ bậc tài danh năm 1659
- Ngô Khuê, đỗ bậc tài danh năm 1661
- Thiều Sĩ Lâm, đỗ bậc tài danh năm 1670
- Nguyễn Quý Đức, đỗ bậc tài danh năm 1676
- Quách Giai, đỗ bậc tài danh năm 1683
- Vũ Thạnh, đỗ bậc tài danh năm 1685
- Phạm Khiêm Ích, đỗ bậc tài danh năm 1710
- Vũ Công Tể (1687-1745), đỗ bậc tài danh lúc 32 tuổi, làm quan đến Tham tụng, Lại bộ Thượng thư
- Ngô Sách Tố, đỗ bậc tài danh năm 1721
- Nguyễn Thế Lập, đỗ bậc tài danh năm 1727
- Đỗ Huy Kỳ, đỗ bậc tài danh năm 1731, làm quan đến thừa chính sứ, Lễ bộ thị lang
- Nhữ Trọng Đài, đỗ bậc tài danh năm 1733
- Trần Quốc Hiệu, đỗ bậc tài danh năm 1736
- Đặng Văn Kiều (1824-1881), đỗ bậc tài danh lúc 42 tuổi, làm quan đến Quốc sử quán Toản tu, từng làm Giám thí (Phó chủ khảo) trường thi Thừa Thiên (tức trường thi Quảng Đức)
- Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906), đỗ bậc tài danh lúc 29 tuổi, làm quan đến Đốc học Hà Nội. Ông là người cuối cùng đạt danh hiệu này.
- Lưỡng quốc tài danh Phan Kính
- Tài danh Nguyễn Đức Đạt
- Tài danh Nguyễn Văn Giao
- Tài danh Nguyễn Huy Oánh
| Khoa bảng | ||
|---|---|---|
| Thi Hương | Thi Hội | Thi Đình |
| Giải nguyên | Hội nguyên | Đình nguyên |
| Hương cống Sinh đồ |
Thái học sinh Phó bảng |
Trạng nguyên Bảng nhãn Thám hoa Hoàng giáp Đồng tiến sĩ xuất thân |
