
Giải Bài 12 về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo trong môn Kinh tế và pháp luật lớp 11, sách Kết nối tri thức giúp học sinh lớp 11 hiểu rõ hơn về ý nghĩa của quyền bình đẳng giữa các tôn giáo đối với cuộc sống và xã hội con người. Đồng thời, cung cấp tài liệu gợi ý, so sánh với kết quả đã làm, củng cố, bổ sung và kiểm tra kiến thức.
Luyện tập Bài 12 về Giáo dục Kinh tế và Pháp luật lớp 11
Câu hỏi 1
Các hành vi sau đây có phù hợp với quyền bình đẳng giữa các tôn giáo hay không? Vì sao?
a. Cha sứ Ð và Thượng tọa Q là những vị lãnh đạo tôn giáo có uy tín và ảnh hưởng lớn trong cộng đồng dân cư của tỉnh M. Cả hai đã tích cực tham gia vào hoạt động xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của địa phương, được cộng đồng tín nhiệm và đề cử vào danh sách chính thức ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh M.
b. Tại địa phương K, khi cơ sở thờ tự của tôn giáo P xuống cấp và đối diện nguy cơ sụp đổ, các nhà lãnh đạo và tín đồ của tôn giáo P đã thực hiện các thủ tục xin phép từ các cơ quan có thẩm quyền để tiến hành tháo dỡ và xây dựng lại cơ sở một cách vững chắc và đẹp mắt hơn.
c. Ông N, người được giao trọng trách trông coi cơ sở tôn giáo Y, nhưng đã ngăn cản những người thuộc các tôn giáo khác khỏi việc tham gia buổi sinh hoạt tại cơ sở mà ông quản lý.
Gợi ý đáp án
a. Cha sứ Đ và Thượng tọa Q tuân thủ đúng quy định pháp luật về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo. Pháp luật quy định rằng mọi công dân từ tuổi 18 trở lên đều có quyền bầu cử và từ tuổi 21 trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Pháp luật không phân biệt đối xử dựa trên tôn giáo hay chức sắc tôn giáo.
b. Các nhà lãnh đạo và tín đồ của tôn giáo P đã tuân thủ đúng quy định pháp luật về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo. Tất cả các tổ chức tôn giáo được chính phủ Việt Nam công nhận đều có quyền bình đẳng trong việc cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng mới các cơ sở tôn giáo.
c. Hành vi của ông N là không đúng, có thể gây ra mối quan hệ không tốt và gây xung đột giữa các tôn giáo khác với tôn giáo Y.
Câu 2
Em hãy đọc các tình huống dưới đây và trả lời câu hỏi:
a. Trong tình huống này, người vi phạm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo là các bạn cùng phòng của Q. Hành động yêu cầu Q không thể tự do thực hiện lễ cầu nguyện trước khi ăn là vi phạm quyền tự do tôn giáo của Q.
(1) Trong tình huống này, ai là người vi phạm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo? Vì sao?
(2) Em hãy đưa ra các phương pháp khuyến khích để giúp Q được bình đẳng trong việc thực hiện quyền tự do tôn giáo của mình với các bạn theo tôn giáo khác.
b. Trong tình huống này, người vi phạm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo là ông T, bố của chị B. Hành động cản trở hai người kết hôn vì họ theo hai tôn giáo khác nhau là vi phạm quyền tự do tôn giáo và quyền bình đẳng giữa các tôn giáo của họ.
(1) Trong tình huống này, ai là người vi phạm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo? Vì sao?
(2) Em hãy gợi ý cách giúp chị B và anh A trình bày một cách trung thực và tôn trọng để giải thích cho ông T hiểu và thực hiện quyền bình đẳng giữa các tôn giáo.
c. Hành động của bạn của M là vi phạm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo. Bằng cách nói xấu về tôn giáo mà M dự định theo, bạn đang không tôn trọng quyền tự do tôn giáo của M.
(1) Trong tình huống này, ai là người vi phạm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo? Vì sao?
(2) Em hãy đề xuất cách thức để giúp M truyền đạt ý kiến một cách tử tế và hiểu biết để thuyết phục bạn hiểu và tôn trọng quyền bình đẳng tôn giáo của mình.
Gợi ý đáp án
a. (1) Trong trường hợp này, các bạn (thuộc các tôn giáo khác) cùng ăn với Q tỏ vẻ khó chịu khi Q làm dấu và cầu nguyện trước khi ăn là không đúng, vì pháp luật Việt Nam quy định: Mỗi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo.
(2) Q nên hòa đồng với mọi người bằng cách tế nhị làm dấu, cầu nguyện khi chỉ có một mình hoặc xung quanh là những người cùng tôn giáo với mình.
b. (1) Hành động của ông T là không đúng, vì theo quy định pháp luật Việt Nam: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” và theo điểm b khoản 1 Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định.
(2) Anh A và chị B có thể thuyết phục ông T thực hiện đúng pháp luật về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo và pháp luật hôn nhân gia đình để thực hiện được nguyện vọng của mình.
c. (1) Hành động của bạn của M là không đúng, cần bị lên án khi cố ý nói xấu về tôn giáo mà M dự định theo. Bởi pháp luật Việt Nam quy định các tôn giáo đều được coi trọng và bình đẳng trước pháp luật.
(2) M cần giải thích để bạn hiểu và thực hiện đúng quyền bình đẳng giữa các tôn giáo, đồng thời ủng hộ và tôn trọng quyết định của M.
Câu 3
Hãy kể về những việc làm của mình và người thân đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo.
Gợi ý đáp án
Một số hành động của em và người thân đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo:
+ Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.
+ Phê phán những hành vi biểu hiện sự phân biệt, kỳ thị, và gây chia rẽ giữa các tôn giáo.
+ Phê phán và báo cáo kịp thời những hành vi lạm dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để lan truyền mê tín dị đoan hoặc phá hoại ổn định xã hội, thậm chí chống phá nhà nước.
Áp dụng kiến thức từ môn học Giáo dục Kinh tế và Pháp luật lớp 11 Bài 12
Câu hỏi: Em cùng nhóm học tập nghiên cứu về tình trạng hoạt động tôn giáo tại địa phương và viết bài chia sẻ về những công việc mà các tôn giáo đã thực hiện để đóng góp vào việc xây dựng sự đoàn kết và bình đẳng giữa các tôn giáo trong quá trình phát triển địa phương.
Phương án giải
Tình hình tôn giáo tại Hà Nội
Theo dữ liệu thống kê về tôn giáo năm 2019, Hà Nội hiện có 7 tôn giáo được chính phủ công nhận: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Baha’I và Minh sư đạo; ngoài ra, còn có một số hình thức tôn giáo khác (đạo lạ), như sau:
- Phật giáo: có khoảng hơn 800.000 tín đồ với 2.060 tăng, ni và hơn 1.000 chức sắc, hoạt động tôn giáo tại 2.059 ngôi chùa, tự viện.
- Công giáo: có khoảng 250.000 tín đồ, sinh hoạt ở 400 nhà thờ, 83 giáo xứ, 306 giáo họ. Hà Nội có 19 cộng đoàn tu sĩ với trên 270 tu sĩ, sinh hoạt tôn giáo ở 20 tu viện. Giáo phận Công giáo có 1 Hồng y; 3 giám mục, hơn 90 linh mục và gần 2.000 chức sắc. Thủ đô Hà Nội là nơi duy nhất tại Việt Nam có các giáo phận, giáo họ thuộc sự quản lý của 3 tòa giám mục là Hà Nội, Hưng Hóa và Bắc Ninh.
- Tin lành: có 33 phái, trong đó: 7/33 phái được chính phủ công nhận với 167 điểm, nhóm và hơn 10.000 tín đồ. Cụ thể: tín đồ Việt Nam khoảng trên 6.000 người; Hàn Quốc khoảng 1.400 người và hơn 3.000 tín đồ khác là người nước ngoài đến từ 40 quốc gia khác nhau đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội.
- Cao đài: gồm 3 họ đạo thuộc Cao đài Bến Tre (Ban chỉnh đạo là 1 họ và Cao đài Tây Ninh 2 họ), có 21 chức sắc, 30 chức việc và gần 400 tín đồ.
- Hồi giáo: có 1 Thánh đường với 86 tín đồ người Hà Nội, khoảng 300 tín đồ là người Chăm, Tây Ninh; hơn 500 tín đồ là nhân viên các Đại sứ quán, doanh nhân của 18 nước khối Ả Rập đang công tác tại Hà Nội; 1 Ban Quản trị gồm 5 thành viên, trong đó có 1 chức sắc là Imam.
- Đạo Baha’i: bao gồm 15 Hội đồng tinh thần địa phương, trong đó có 3 Hội đồng đã được Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố công nhận ở Hai Bà Trưng, Thanh Trì, Thạch Thất, với khoảng hơn 400 tín đồ và 20 chức việc.
- Minh sư đạo: có 1 tổ chức Minh sư với 1 chức sắc, 50 tín đồ và 3 chức việc.
- Giáo hội Các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô có 1 Trưởng Ban đại diện; 5 vị trong Ban đại diện với khoảng 200 tín đồ, hoạt động tại 3 điểm nhóm trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.
- Các tín ngưỡng dân gian: có tổng cộng 5.211 di tích đình, đền, nhà thờ họ, lăng, miếu… , trong đó có khoảng 1.200 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia và khoảng 900 di tích được xếp hạng cấp thành phố.
