Bài học Tiếng Việt 5 VNEN: Người công dân số 1
A. Các hoạt động cơ bản
(Trang 3 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 1. Quan sát tranh vẽ minh họa chủ đề Người công dân và trả lời câu hỏi:

(Trang 3 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) a. Trẻ em đang thực hiện những gì để thể hiện quyền lợi của nhóm?
(Trang 3 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) b. Em nghĩ gì về trách nhiệm và nghĩa vụ của người dân trong tương lai?
Trả lời
Nhìn vào hình ảnh, chúng ta có thể nhận thấy:
a. Trong bức ảnh, các bạn học sinh tham gia vào việc bỏ phiếu chọn ra những người có đủ năng lực và xứng đáng để tham gia vào Ban chỉ huy Đội, Liên đội.
b. Theo quan điểm của tôi, mỗi công dân khi sinh ra và trưởng thành đều có quyền và trách nhiệm công dân. Đó là quyền được yêu thương, chăm sóc, học hành, tự do,... và nghĩa vụ bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
(Trang 5 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 2. Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài sau: (Sách giáo khoa)
(Trang 5 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 3. Lần lượt đọc từng từ và giải nghĩa:
(Trang 5 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 4. Hãy cùng nhau luyện đọc
(Trang 5 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 5. Thảo luận và trả lời câu hỏi:
• Anh Lê đã giúp anh Thành làm việc gì?
• Những lời của anh Thành cho thấy anh luôn suy nghĩ về dân và đất nước như thế nào?
Trả lời
a. Anh Lê giúp anh Thành tìm việc làm ở Sài Gòn.
b. Tấm lòng của anh Thành luôn hướng về dân, về nước, được thể hiện qua những câu nói:
• Chúng ta cùng là đồng bào, có cùng máu mủ, cùng da vàng. Nhưng... anh đã từng suy nghĩ về đồng bào không?
• Vì chúng ta... vì tôi... chúng ta là công dân của đất nước Việt Nam...
=> Trong những lời của anh Thành, anh luôn nhắc nhở anh Lê về ý nghĩa của hai từ “đồng bào', về dòng máu Việt Nam đậm đà và cảm động,
(Trang 6 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 3. Các đoạn thoại nào dưới đây cho thấy mối quan hệ giữa anh Thành và anh Lê không luôn suôn sẻ? Tại sao?
a.
| Lê: Anh Thành! Mọi thứ tôi thu xếp xong rồi. Sáng mai anh có thể đến nhận việc rồi đấy | Thành: Có lẽ thôi, anh ạ |
b.
| Lê: Vậy anh vào Sài Gòn để làm gì? | Thành: Anh Lê này! Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba...thì...ờ... anh là người nước nào? |
c.
| Anh hỏi lạ thật. Anh người nước nào thì tôi là người nước ấy | Thành: Đúng. Chúng ta là đồng bào, cùng máu đỏ da vàng với nhau |
d.
| Lê: ...Nhưng tôi chưa hiểu vì sao anh thay đổi ý kiến, không định xin việc làm ở Sài Gòn này nữa | Thành: Anh Lê ạ! Vì đèn dầu ta không sáng bằng đèn Hoa Kì [...] Hôm qua, tôi đi xem chớp bóng thấy ngọn đèn điện mới thật là sáng nhất. |
Trả lời
Các đoạn thoại chỉ ra rằng trong câu chuyện, anh Thành và anh Lê không đồng thuận là: b, d
b. Lê: Anh đến Sài Gòn để làm gì vậy?
b. Anh Lê này! Anh học trường Sa-xơ-lu Lô-ba...thì...ờ... anh là người từ quốc gia nào vậy?
Và:
d. Lê: ...Nhưng tôi không hiểu tại sao anh lại thay đổi ý kiến, không muốn xin việc làm ở Sài Gòn này nữa
d. Thành: Anh Lê ạ! Vì đèn dầu không sáng bằng đèn Hoa Kỳ [...] Hôm qua, tôi đi xem chớp bóng thấy ngọn đèn điện mới thực sự sáng nhất.
Lý do câu chuyện có lúc không thống nhất là vì mỗi người đang theo đuổi một ý nghĩ riêng biệt. Anh Thành và anh Lê mỗi người đều có những suy nghĩ riêng của mình: Anh Lê quan tâm đến việc kiếm sống, việc làm, trong khi Thành quan tâm đến việc cứu nước cứu dân.
(Trang 6 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 6. Diễn vai theo đoạn văn
(Trang 6 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 7. Tìm hiểu câu ghép:
1. Đọc đoạn văn sau đây:
(1) Mỗi khi di chuyển nhà, con khỉ luôn nhảy lên ngồi trên lưng con chó lớn. (2) Nếu con chó đi chậm, con khỉ sẽ lấy hai tai chó rồi giật mạnh. (3) Khi con chó chạy nhanh, con khỉ sẽ gò lưng như người đang cưỡi ngựa. (4) Nếu con chó chạy chậm, con khỉ sẽ buông tay ra và ngồi lưng ngưng.
(Trang 6 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 2. Phân loại các câu trong đoạn trên vào các nhóm phù hợp và ghi vào bảng nhóm:
a. Câu có một cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành.
b. Câu có nhiều cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành.
(Trang 6 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 3. Có thể phân chia hai cụm chủ ngữ - vị ngữ trong các câu ở nhóm b) thành hai câu không? Tại sao?
Trả lời
2. Phân loại các câu vào nhóm phù hợp:
a. Câu có một cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành:
(1) Mỗi khi dời nhà, mỗi khi con khỉ nhảy lên ngồi trên lưng con chó to
CN VN
b. Câu có nhiều cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành.
(2) Nếu con chó đi chậm, con khỉ sẽ lấy hai tai của chó và giật mạnh.
CN VN CN VN
(3) Khi con chó chạy nhanh, con khỉ sẽ gò lưng như người đang cưỡi ngựa.
CN VN CN VN
(4) Khi chó chạy chậm, khỉ sẽ buông tay và ngồi ngút ngút.
CN VN CN VN
3. Chúng ta không thể phân chia hai cụm chủ ngữ - vị ngữ trong các câu ở nhóm b) thành hai câu vì mỗi phần của mỗi cụm đều diễn đạt một ý nghĩa rõ ràng và mạch lạc.
B. Hoạt động thực hiện
(Trang 7 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 1. a. Đọc đoạn văn sau:
(1) Biển luôn biến hóa màu sắc tùy thuộc vào bầu trời mây. (2) Khi trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm, như đang nâng cao lên, chắc chắn. (3) Trời phủ mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu dàng sương mờ. (4) Khi trời u ám mây mưa, biển xám xịt, trầm trọng. (5) Khi trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu, tức giận...(6) Biển đôi khi rất đẹp, ai cũng thấy như vậy. (7) Tuy nhiên, phần lớn vẻ đẹp của biển, vẻ đẹp kỳ diệu đa dạng ấy chủ yếu do mây, trời và ánh sáng tạo ra.
(Trang 7 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) b. Tìm câu ghép trong đoạn văn và ghi vào bảng nhóm theo mẫu?
(Trang 7 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) c. Có thể phân chia mỗi vế trong câu ghép đã tìm được thành một câu đơn không? Tại sao?
Trả lời
b. Các câu ghép trong đoạn văn trên gồm:
| Câu ghép | Vế câu thứ nhất | Vế câu thứ hai |
|---|---|---|
| Câu 2 | Trời xanh thẳm | Biển cũng xanh thẳm, như dâng cao lên, chắc nịch |
| Câu 3 | Trời rải mây trắng nhạt | Biển mơ màng, dịu hơi sương |
| Câu 4 | Trời âm u mây mưa | Biển xám xịt, nặng nề |
| Câu 5 | Trời ầm ầm dông gió | Biển đục ngầu, giận dữ |
| Câu 6 | Biển nhiều khi rất đẹp | Ai cũng thấy như thế |
c. Không thể phân tách mỗi phần trong câu ghép đã tìm thành câu đơn. Mỗi phần của câu thể hiện một ý có liên kết chặt chẽ và bổ sung ý nghĩa cho nhau.
(Trang 7 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 2. Thêm một câu vào chỗ trống để tạo thành câu ghép và ghi vào vở
a. Mùa xuân đã về,.................
b. Mặt trời mọc, ...................
c. Trong truyện cổ tích Cây khế, người em chăm chỉ, hiền lành, còn ...................
d. Vì trời mưa to nên ................
Trả lời
a. Xuân về, khắp nơi hoa rực rỡ.
b. Mặt trời mọc, chim hót vang đón chào bình minh mới.
c. Trong truyện cổ tích Cây khế, người em làm việc siêng năng, hiền lành, trong khi người anh thì tham lam và lười biếng.
d. Do trời mưa lớn, trận đấu bóng phải hoãn.
(Trang 8 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 3. Nghe giáo viên đọc và ghi lại vào vở 'Nhà yêu nước Nguyễn Trung Trực'.
Trả lời
Nhà yêu nước Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực sinh ra trong một gia đình làm nghề đánh cá trên sông Vàm Cỏ. 23 tuổi, ông lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Tân An, nay thuộc tỉnh Long An. Đội quân do ông chỉ huy đã có nhiều chiến công hào hùng trên vùng Tây Nam Bộ. Bị kẻ thù bắt và đưa ra hành hình, ông mạnh mẽ đáp lại viên thống đốc Nam Kì: 'Chỉ khi nào kẻ Tây diệt sạch dân Việt, thì người Nam mới ngừng chống lại kẻ Tây.'
(Trang 8 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 4. Chọn chữ thích hợp để điền vào chỗ trống trong bảng phiếu học tập, biết rằng:
(1) Chữ r, d hoặc gi
(2) Chữ o hoặc ô (có dấu thanh thích hợp)
Tháng giêng của em
Đồng quê bừng lên những cánh hoa
Mầm cây chồi nảy, vườn reo hòa tiếng chim hót
Hạt mưa rơi nhẹ nhàng (2) trên mặt đất ẩm ướt
Cây đào nở hoa trước cửa (1) rực rỡ, làm cho mắt tôi bừng sáng
Quả quất (2) giọt nắng rơi từng hạt trên lá xanh (1) mê hoặc lòng người
Trở thành thành quả — như những mặt trời vàng ươm mơ màng
Tháng (1) mười hai đến tự nhiên bấy lâu nay?
Đất trời tiếp tục viết tiếp bài thơ (2) của ngày mới tinh khôi.
(Theo ĐỖ QUANG HUỲNH)
Đáp án
Tháng giêng của em bé
Đồng quê rộn ràng tiếng cười của những chú heo con
Mầm cây tỉnh dậy, vườn tràn ngập tiếng hót của chim non
Hạt mưa lặng lẽ trên lá xanh tìm kiếm
Cây đào trước cửa phủ đầy lớp sương mờ mắt cười
Quả quất rơi từng hạt nắng ngập
Tạo ra thành quả — những ánh nắng vàng rực rỡ mơ màng
Tháng một đến tự bao giờ?
Đất trời viết tiếp bài thơ ngọt ngào.
(Theo NGUYỄN QUANG HUỲNH)
(Trang 8 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 5. Chọn phần a hoặc b (trang 8, 9 sgk)
(Trang 9 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) a. Tìm tiếng bắt đầu bằng r, d hoặc gi thích hợp cho mỗi ô trống. Ghi lại các từ có tiếng đã tìm được vào vở.
(Trang 9 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) b. Tìm vần chứa o hoặc ô phù hợp với mỗi ô trống. Ghi lại các từ tạo thành và lời giải câu đố vào vở.
Trả lời
a.
Làm việc suốt cả ngày
Có một con ve thấy bác nông dân kia làm việc chăm chỉ, từ sáng đến tối không nghỉ ngơi, liền tò mò hỏi:
- Bác làm việc vất vả như vậy để làm gì?
Bác nông dân trả lời:
- Tôi làm việc suốt cả ngày vì phải làm cho cả ba bữa.
Ve suy nghĩ mãi không hiểu, lại hỏi:
- Ý nghĩa của 'làm việc cho cả ba thời' là gì?
Bác nông dân diễn giải một cách rõ ràng:
- Trước hết, tôi phải làm việc để nuôi sống bản thân. Đó là làm việc cho hiện tại. Nhà tôi còn có bố mẹ già. Làm việc để chăm sóc bố mẹ là làm việc vì quá khứ. Còn làm việc để nuôi con là đầu tư cho tương lai. Sau này khi tôi già, con cái tôi sẽ nuôi tôi như hiện tại tôi đang chăm sóc cha mẹ.
(Truyện cười dân gian thế giới)
b.
Hoa gì nở lửa hồng rực
Lớn lên bằng việc đựng hạt ngọc đầy bên trong rồi chuyển sang màu vàng?
=> Đáp án: Hoa lựu
Hoa nở trên mặt nước
Lại chứa hạt bên trong
Hương bay qua hồ rộng
Lá đội đầu mướt xanh.
=> Đáp án: Cây hoa sen
C. Hoạt động sáng tạo
Trả lời
Từ câu chuyện về đôi tất
“Các đồng chí sống gần Bác đều biết Bác rất tiết kiệm. Có đôi tất bị rách, đã vá lại nhiều lần mà Bác vẫn không bỏ. Bác nói:
- Cái gì vẫn dùng được thì hãy tiếp tục sử dụng. Vứt đi không phải...
Khi đôi tất chưa kịp vá, anh em mang đôi mới cho Bác, Bác xoay phần bị rách vào bên trong và nói với nụ cười tươi:
- Đó, chẳng thấy cái rách nữa rồi đâu...”
Chuyện về đôi dép
“Đôi dép của Bác được “tạo ra” vào năm 1947, làm từ một chiếc lốp xe quân sự của thực dân Pháp bị quân đội ta thu giữ ở Việt Bắc.
Bác nói đùa với các đồng đội đi cùng:
- Đây là chiếc dép không gì vượt qua được trong câu chuyện cổ tích xưa kia... Đôi dép kỳ diệu của đất nước, đi đến đâu cũng được.
Dù khi đi “hành quân” hoặc trong mùa đông, Bác luôn mang theo đôi tất để giữ ấm cho chân, và ngay cả khi tiếp đón khách trong nước hoặc quốc tế, họ vẫn thấy Bác luôn đi với đôi dép đó.
Khi gặp suối hoặc trời mưa trơn, đôi dép dính bùn nước làm đi khó khăn, Bác thường tháo dép ra mang trên tay. Khi thăm bà con nông dân, bước chân qua các cánh đồng đang cấy hoặc thu hoạch, Bác luôn sẵn lòng xắn quần cao, bước lên ruộng, tay cầm hoặc kẹp đôi dép...
Đã mười một năm trôi qua vẫn là đôi dép ấy... Cảnh vệ đặc công cũng đã vài lần 'xin' Bác đổi dép nhưng Bác luôn nói “vẫn còn sử dụng được”.
Kể từ khi đi thăm Ấn Độ, vẫn là đôi dép ấy, Bác nói: Nước ta vẫn chưa thực sự độc lập. Dân ta vẫn còn gặp khó khăn. Bác đi dép cao su, nhưng bên trong là đôi tất mới thế là đủ, vẫn lịch sự...
Vào năm 1960, một chiến sĩ vô tình đè lên chân Bác làm quai dép bị tụt. Anh chiến sĩ ấy đã chạy đi và quay lại với một chiếc búa và mấy cái đinh:
- Để tôi sửa dép cho Bác...
Mọi người nhường chỗ ra. Chỉ trong chốc lát, chiếc dép đã được sửa chữa xong.
Những chiến sĩ không được may mắn được sửa dép than phiền:
- Đôi dép của Bác quá cũ. Thưa Bác, Bác nên đổi đôi mới ạ...
Bác nhìn các chiến sĩ và nói:
Đôi dép của Bác đã cũ nhưng chỉ mới tụt quai. Cháu đã sửa lại cho Bác chắc chắn như thế này thì còn “lâu” lắm! Mua đôi dép mới không đáng là bao, nhưng khi chưa cần thiết cũng không nên... Ta phải tiết kiệm vì đất nước ta vẫn còn nghèo...
Đôi dép cá nhân đã như vậy, còn “đôi dép” ô tô của Bác cũng thế!”
Đôi tất cũ đã sờn, rách đã được xoay vào trong để không còn thấy rách. “- Đấy, có thấy rách nữa đâu...”- Bác nói. Mười một năm đi duy nhất một đôi dép và khi tụt quai lại sửa lại và tự hào là còn “ lâu” lắm. Đọc câu chuyện vừa xót xa vừa khâm phục, xót xa vì đất nước trong hoàn cảnh khó khăn, vị lãnh tụ của đất nước 11 năm đi một đôi dép làm từ chiếc lốp ô tô, khâm phục vì trong khó khăn Bác vẫn lạc quan vui vẻ, để lại cho chúng ta tấm gương về sự tiết kiệm thật là quý báu.
Càng đọc càng yêu quý Bác hơn, càng hiểu những tư tưởng những bài học của Người không phải những gì quá xa lạ, cao sang mà chúng ta không thể với tới, đó chỉ là những sinh hoạt đời sống thường ngày quanh chúng ta. Cuộc sống bận rộn với bao lo lắng muộn phiền về kinh tế, gia đình, công việc,… chúng ta có ít thời gian để ngồi lại và ngẫm rằng mình đã và đang làm gì theo gương của Bác. Nhưng chợt nhận ra đâu phải cần hô hào khẩu hiệu, đâu cần phải những lời lẽ hùng hồn để chứng tỏ rằng mình đang sống và làm việc theo tư tưởng và tấm gương của Bác.
(Sưu tầm)
Các chủ đề khác nhiều người xem
