Anh bù nhìn được làm từ chất liệu gì? Nhiệm vụ của anh bù nhìn là gì? Nông dân thường thực hiện hành động gì khi lũ chim ăn hết hạt đã gieo ra ngoài đồng? Điểm đặc biệt của anh bù nhìn là gì? Câu “Những anh bù nhìn thật hiền lành, dễ thương, chăm chỉ làm việc của mình, chẳng đòi ăn uống gì và cũng chẳng bao giờ kể công” thuộc loại câu nào? Chủ ngữ trong câu “Tay anh bù nhìn cầm một cái vọt tre mềm như cần câu” là gì? Hãy tìm và phân loại từ đơn, từ ghép và từ láy trong đoạn văn sau: Phân tích cấu trúc câu trong đoạn văn: Em hãy viết một bài tập
Nội dung 1
1. Cây gậy của anh bù nhìn được làm từ những vật liệu nào?
A. Giấy và bao tải cũ
B. Giấy và rơm
C. Gỗ và áo tơi lá cũ
D. Thanh tre, bao tải rách, áo tơi lá cũ
2. Anh bù nhìn có nhiệm vụ gì?
A. Dọa trẻ con trong làng, không cho chơi ở cánh đồng
B. Dọa chim, bảo vệ ruộng mới gieo hạt
C. Làm đồ chơi cho trẻ con
D. Bảo vệ lúa khỏi bị chuột ăn
3. Người nông dân làm gì khi lũ chim ăn hết hạt mới gieo ngoài đồng?
A. Gieo lại hạt và làm một anh bù nhìn mới
B. Gieo lại hạt và làm bẫy chim
C. Giăng lưới để bắt chim
D. Vừa làm bẫy chim vừa làm anh bù nhìn khác
4. Điểm đáng yêu của các anh bù nhìn là gì?
A. Hiền lành, tốt bụng, thường xuyên giúp đỡ trẻ con trong làng
B. Vui tính, không cáu gắt, làm trò vui cho trẻ con
C. Giúp các bác nông dân gieo hạt, cấy cày để có một vụ mùa bội thu
D. Không dọa dẫm, cáu gắt, lên mặt với trẻ con, giúp người nông dân bảo vệ ruộng mới gieo hạt
5. Câu “Những anh bù nhìn thật hiền lành, dễ thương, chăm chỉ làm việc của mình, chẳng đòi ăn uống gì và cũng chẳng bao giờ kể công” thuộc kiểu câu nào?
A. Ai làm gì?
B. Ai thế nào?
C. Ai là gì?
6. Chủ ngữ trong câu “Tay anh bù nhìn cầm một cái vọt tre mềm như cần câu” là gì?
A. Tay
B. Tay anh
C. Tay anh bù nhìn
D. Anh bù nhìn
7. Có thể thay từ ranh ma trong câu “Chỉ tiếc là cũng có những con chim ranh ma, một lần sà xuống biết đấy là anh bù nhìn, không có gì nguy hiểm, không có gì đáng sợ….” bằng từ nào dưới đây:
A. láu cá
B. khôn ngoan
C. tinh anh
D. thông minh
8. Dấu hai chấm trong câu sau có tác dụng gì?
Thế là ruộng ngô, ruộng đỗ, ruộng vừng hoặc một ruộng mạ mới gieo… đã có một người bảo vệ, một người lính gác: một anh bù nhìn.
A. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời giải thích cho bộ phận đứng trước
B. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của nhân vật
C. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là các ý liệt kê
D. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là suy nghĩ của nhân vật
Nội dung 2
HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT
Phần I. Trắc nghiệm

|
Câu 1: Anh bù nhìn được làm bằng gì? A. Giấy và bao tải cũ B. Giấy và rơm C. Gỗ và áo tơi lá cũ D. Thanh tre, bao tải rách, áo tơi lá cũ |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ những đoạn văn sau để chọn đáp án phù hợp nhất.
“Một cái que đâm thẳng đứng, một thanh tre nhỏ kẹp ngang, tạo thành hình chữ thập. Khoác lên đó một chiếc áo tơi lá cũ, hoặc một miếng bao tải rách, cũng có thể là một mảnh chăn rách cũ. Trên đỉnh của que đâm là một chiếc nón rách rách. Đó là ruộng ngô, ruộng đỗ, ruộng vừng hoặc một cánh đồng mạ mới gieo… đã có một người bảo vệ, một người lính gác: một anh bù nhìn.”
Phương pháp giải:
Anh bù nhìn được làm từ thanh tre, bao tải rách, áo tơi lá cũ
Chọn D.
|
Câu 2: Anh bù nhìn có “nhiệm vụ” gì? A. Dọa trẻ con trong làng, không cho chơi ở cánh đồng B. Dọa chim, bảo vệ ruộng mới gieo hạt C. Làm đồ chơi cho trẻ con D. Bảo vệ lúa khỏi bị chuột ăn |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ đoạn văn sau để chọn đáp án phù hợp:
“Có nhiều loài chim bị mắc lừa, rất sợ anh bù nhìn, sợ cái cần câu ấy, vì chỉ hơi thoáng gió thì từ tấm áo, cái nón, đến thanh roi ấy đều cử động, phe phẩy, đung đưa…. Bọn trẻ chúng tôi đứng từ xa mà nhìn cũng thấy đúng là một người đang ngồi, tay cầm que để đuổi chim…”
Phương pháp giải:
Anh bù nhìn có “nhiệm vụ” dọa chim, bảo vệ ruộng mới gieo hạt
Chọn B.
|
Câu 3: Người nông dân làm gì khi lũ chim ăn hết hạt mới gieo ngoài đồng? A. Gieo lại hạt và làm một anh bù nhìn mới B. Gieo lại hạt và làm bẫy chim C. Giăng lưới để bắt chim D. Vừa làm bẫy chim vừa làm anh bù nhìn khác |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ đoạn văn sau để chọn đáp án phù hợp nhất.
“Chỉ tiếc là cũng có những con chim láu cá, một lần sà xuống biết đấy là anh bù nhìn, không có gì nguy hiểm, không có gì đáng sợ thế là lần sau nó cứ xuống và còn đi gọi cả đàn xuống, vừa tra ngô, tỉa đỗ, mà lại phải đi làm lại từ đầu, vì chúng đã ăn hết cả hạt vừa gieo. Người ta vốn khôn ngoan hơn, lại phải thay lại tấm áo, cái nón và cái cần câu mới, buộc thêm vào đấy nhiều mẩu giấy có các màu, làm như đó là một người bảo vệ mới.”
Cách giải:
Khi lũ chim ăn hết hạt mới gieo ngoài đồng, người nông dân gieo lại hạt và tạo ra một anh bù nhìn mới.
Chọn A.
|
Câu 4: Điểm đáng yêu của các anh bù nhìn là: A. Hiền lành, tốt bụng, thường xuyên giúp đỡ trẻ con trong làng B. Vui tính, không cáu gắt, làm trò vui cho trẻ con C. Giúp các bác nông dân gieo hạt, cấy cày để có một vụ mùa bội thu D. Không dọa dẫm, cáu gắt, lên mặt với trẻ con, giúp người nông dân bảo vệ ruộng mới gieo hạt |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ đoạn văn sau để chọn đáp án phù hợp nhất.
“Bọn trẻ chúng tôi thích các anh bù nhìn ấy vì các anh không bao giờ dọa chúng tôi, không bao giờ lên mặt hoặc cáu gắt, dù chúng tôi có ào xuống ruộng bắt châu chấu, đuổi cào cào, giẫm cả lên cái mầm ngô, mầm đỗ mới nhú…”
Cách giải:
Điểm đáng yêu của anh bù nhìn là: không dọa dẫm, không cáu gắt, không lên mặt với trẻ con, giúp người nông dân bảo vệ ruộng mới gieo hạt
Chọn D.
|
Câu 5: Câu “Những anh bù nhìn thật hiền lành, dễ thương, chăm chỉ làm việc của mình, chẳng đòi ăn uống gì và cũng chẳng bao giờ kể công” thuộc kiểu câu nào? A. Ai làm gì? B. Ai thế nào? C. Ai là gì? |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ câu văn và cho biết câu văn đó thuộc thể loại nào?
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên thuộc thể loại Ai thế nào?
Chọn B.
|
Câu 6: Chủ ngữ trong câu “Tay anh bù nhìn cầm một cái vọt tre mềm như cần câu” là gì? A. Tay B. Tay anh C. Tay anh bù nhìn D. Anh bù nhìn |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ câu văn và phân tích cấu tạo câu để xác định chủ ngữ của câu.
Chủ ngữ là những từ, cụm từ trả lời cho câu hỏi Ai, Cái gì, Con gì
Cách giải:
Trong câu văn trên, chủ ngữ là Tay của anh bù nhìn
Chọn C.
|
Câu 7: Có thể thay từ ranh ma trong câu “Chỉ tiếc là cũng có những con chim ranh ma, một lần sà xuống biết đấy là anh bù nhìn, không có gì nguy hiểm, không có gì đáng sợ….” bằng từ nào dưới đây: A. láu cá B. khôn ngoan C. tinh anh D. thông minh |
Phương pháp:
Xin đọc kỹ câu văn và hiểu ý nghĩa của từ ranh ma để lựa chọn từ thay thế phù hợp.
ranh ma: miêu tả sự khôn ngoan, tinh ranh
Cách giải:
Từ có thể sử dụng để thay thế từ ranh ma trong câu văn trên là từ láu cá
Chọn A.
|
Câu 8: Dấu hai chấm trong câu sau có tác dụng gì? Thế là ruộng ngô, ruộng đỗ, ruộng vừng hoặc một ruộng mạ mới gieo… đã có một người bảo vệ, một người lính gác: một anh bù nhìn. A. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời giải thích cho bộ phận đứng trước B. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của nhân vật C. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là các ý liệt kê D. Báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là suy nghĩ của nhân vật |
Phương thức:
Xin đọc kỹ câu, chú ý đoạn sau dấu hai chấm để xác định tác dụng của dấu hai chấm.
Cách giải:
Dấu hai chấm trong câu trên được sử dụng để chỉ rằng phần câu tiếp theo là lời giải thích cho phần câu trước
Chọn A.
Phần II. Phần Tự luận
|
Câu 1: Nhìn – viết: Hát rằng: cá bạc Biển Đông lặng, Cá thu Biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! |
Phương thức:
Em viết đoạn thơ vào tờ giấy làm bài kiểm tra.
Cách giải:
Em tự mình hoàn thành phần viết chính tả.
Lưu ý:
- Viết đúng chính tả
- Bố trí gọn gàng
|
Câu 2: Em hãy tìm từ đơn, từ ghép và từ láy trong câu văn sau: Xe chúng tôi leo chênh vênh trên dốc cao của con đường xuyên tỉnh. - Từ đơn - Từ ghép - Từ láy |
Cách giải:
Em đọc câu văn và nhận diện các loại từ trong đó: từ đơn, từ ghép, và từ láy.
- Từ đơn là từ chỉ có một tiếng
- Từ ghép là từ được tạo thành từ các tiếng có nghĩa ghép lại với nhau
- Từ láy là từ được tạo ra bằng cách kết hợp các tiếng có cùng âm đầu hoặc vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau
Cách giải:
- Từ đơn: xe, leo, trên, dốc, cao, của, xuyên, tỉnh
- Từ ghép: chúng ta, con đường
- Từ láy: chao đảo
|
Câu 3: Phân tích cấu tạo các câu sau: a. Về đêm, cảnh vật thật im lìm. b. Trước sân nhà, ba em có trồng một cây mai tứ quý. c. Mặt hồ trải rộng mênh mông và lặng sóng. |
Phương pháp:
Em đọc kĩ các câu văn và xác định trạng từ, chủ từ, vị ngữ của chúng.
Cách giải:

| Câu 4: Em hãy viết một bài văn tả lại một con vật nuôi mà em biết. |
Phương pháp:
Em sử dụng dàn ý dưới đây để viết tiếp bài văn.
Mở đầu: Giới thiệu về việc nuôi vật cưng trong nhà.
- Bắt đầu nuôi từ khi nào?
- Là do ai chăm sóc (tặng, mua)?
Thân bài:
a. Miêu tả tổng quan
- Vật nuôi đó được gọi là gì? Thuộc giống gì?
- Hình dáng của nó như thế nào?
- Con vật có lông không? Nếu có thì màu sắc như thế nào?
b. Miêu tả chi tiết
- Phần đầu của vật nuôi như thế nào?
- Màu sắc của đôi mắt của vật nuôi là gì?
- Cái mũi của vật nuôi có dáng như thế nào?
c. Miêu tả hoạt động
- Con vật nuôi thường hoạt động như thế nào?
- Con vật nuôi đó mang lại lợi ích gì cho gia đình của em?
- Chia sẻ một kỷ niệm đáng nhớ với con vật đó.
Kết luận: Thể hiện tình cảm, cảm xúc của em đối với con vật nuôi đó
Phương pháp:
Bài mẫu 1: Mô tả con chim bồ câu
Trong tất cả các loài vật nuôi của gia đình, em ấn tượng nhất với con chim bồ câu mái mà chú em tặng em trong dịp sinh nhật lần thứ mười của em.
Dù là con chim mái, nhưng nó nhìn nhỏ hơn một chút so với con trống. Lông xám kết hợp với màu xanh lục trên toàn thân tạo nên vẻ đẹp đặc biệt cho nó. Đầu nhỏ xinh với chiếc mỏ nâu ngắn ngủi làm cho nó trở nên đáng yêu hơn khi chúng nhổ rụng lông hoặc chải lông. Đôi mắt to tròn đen láy, với viền đỏ au bao quanh, tạo nên vẻ đẹp độc đáo. Bồ câu có cổ mịn màng, màu sắc đậm hơn phần lớn của cánh, khiến cho hình dáng của nó trở nên thanh mảnh nhưng đầy quyến rũ. Đôi cánh của nó cong nhẹ giống như hai chiếc lá trải dài theo thân. Những lông vũ dài và cứng giúp cho bồ câu có thể bay xa. Đuôi nở ra như một chiếc quạt nhỏ, làm cho con chim trở nên duyên dáng hơn. Chân ngắn và mảnh mai của nó màu đỏ, nhưng nó vẫn nhảy rất nhanh.
Suốt cả ngày, bồ câu thường quanh quẩn trong vườn hoặc trên sân để tìm kiếm thức ăn: đôi khi chúng lạc quan trong sân, đôi khi ngồi trên mái nhà gáy rình. Tiếng kêu “gù gì” của bồ câu nghe trầm ấm và rất dễ thương.
Thỉnh thoảng, con chim mái cũng đi theo tiếng gọi của con trống để tìm kiếm thức ăn hoặc tham gia các hoạt động ngoại ô trong một vài giờ. Tuy nhiên, nó luôn biết cách trở về nhà mà không bao giờ lạc. Chim bồ câu này rất hiền lành, sạch sẽ và thích sống trong môi trường sạch sẽ. Vì vậy, mẹ em luôn chuẩn bị thêm đậu xanh hoặc hạt kê để nuôi dưỡng cho con bồ câu. Bố em cũng đã thuê xây một cái chuồng được trang trí với nhiều màu sắc tươi sáng để chăm sóc cho con bồ câu.
Đến nay con chim mái đã đẻ hai quả trứng và đang ấp. Bồ câu sinh sản khá nhanh chóng. Một đàn chim bồ câu nhỏ xinh sẽ làm cho tổ ấm của em thêm phần sinh động. Mặc dù mọi người đều khen thịt chim bồ câu ngon và bổ, nhưng với em, em thích nuôi chúng hơn.
Việc nuôi chim bồ câu không cần nhiều công sức mà vẫn giữ cho môi trường sạch sẽ. Đây là loài chim hiền lành, luôn sống hòa thuận với nhau. Vì vậy, loài người đã chọn chim bồ câu làm biểu tượng cho mong ước về hòa bình.
Bài tham khảo 2: Mô tả chú chó
Em thích chó lắm. Mới đây, trong dịp sinh nhật của em, bố mua cho em một chú chó con rất đẹp.
Chú chó rất dễ thương. Em đã đặt cho chú cái tên là Kẹo. Mẹ bảo em đặt tên kỳ quặc quá. Nhưng em thích cái tên này. Từ khi bố tặng, mỗi ngày em đều quan tâm và chăm sóc cho Kẹo rất chu đáo. Kẹo nặng khoảng bốn đến năm kilogram, em tin rằng chú sẽ nhanh chóng lớn lên dưới sự chăm sóc của em.
Chú có bộ lông màu vàng nhạt mềm mại, nhưng phần lông ở bốn chân chú lại màu trắng rất dễ thương. Kẹo rất thông minh, với đôi tai cụp xuống, đôi khi lại vểnh lên như đang lắng nghe điều gì đó. Đôi mắt đen láy của Kẹo tròn xoe, rất đáng yêu.
Chú rất thích nghịch ngợm. Mỗi buổi chiều rảnh rỗi, em dẫn chú ra cánh đồng chơi trò đuổi bắt. Em chạy, chú cũng chạy theo. Khi đuổi kịp, chú nhảy lên người em quấn quýt, có vẻ rất thích thú.
Em yêu Kẹo rất nhiều. Em cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn với bố đã tặng cho em món quà đặc biệt này.
Bài tham khảo 3: Mô tả chú mèo
Trong số nhiều loài vật nuôi trong nhà, em thích con mèo nhất. Con mèo không chỉ hiền lành mà còn rất khéo léo trong việc bắt chuột.
Chú mèo nhà em thuộc giống mèo mướp thông thường, vừa không quá mập mạp vừa không quá gầy, nhưng lại rất hiền lành và không bao giờ ăn lén thức ăn của con người. Lông của chú mèo dài, dày và rất mềm mịn, chú thích nằm úp bụng xuống đất và được em vuốt từ đầu đến đuôi. Mỗi khi được vuốt như vậy, đôi tai nhỏ của chú lại ngả sang hai bên, đôi mắt nhắm lại như đang thưởng thức cảm giác thoải mái.
Chân của chú mèo khá dài, thon thả và đặc biệt là bàn chân rất êm ái và mềm mại. Lớp đệm dưới chân giúp chú di chuyển trên mọi loại địa hình mà không gây ra tiếng động. Ngay cả những chú chuột sắc bén cũng không thể phát hiện được. Một lần, chú mèo bị rơi từ ban công tầng một xuống và đuôi của chú bị kẹt vào miếng tôn sắc nên đã bị chảy máu. Chú rất đau đớn, liên tục kêu 'meo meo' đầy thương tâm. Gia đình em đã chăm sóc cho vết thương của chú và sau năm ngày, vết thương đã hoàn toàn lành. Chú trở lại hoạt bát nhưng giờ đây, chú ít khi leo lên những nơi cao.
Em yêu quý chú mèo nhà em và coi chú như một thành viên trong gia đình. Nếu một ngày nào đó chú mèo ốm, em sẽ rất lo lắng và không thể vui vẻ được.
