
Vào thập kỷ 1980, Stanley Cromie đã phỏng vấn 35 nam và 34 nữ doanh nhân tại Hoa Kỳ để tìm hiểu lý do họ chọn làm doanh nhân. 'Sự tự chủ', 'thành tựu', 'sự không hài lòng với công việc hiện tại' và 'tiền bạc' được cho là những động cơ chính; các lý do khác đều ít quan trọng hơn nhiều. Đặc biệt, mong muốn kiếm nhiều tiền được nhấn mạnh trong cuộc phỏng vấn và được mô tả chi tiết. 'Nhiều người trong số họ đã công khai thể hiện mong muốn này. Họ bày tỏ như... 'Tôi sẽ không thể kiếm được nhiều tiền nếu làm việc cho người khác' hoặc 'Tôi muốn kiếm được nhiều tiền'
Một cuộc khảo sát khác vào những năm 1980 về doanh nhân và những người đang xem xét việc chuyển sang kinh doanh tự do đã chỉ ra rằng 'phần thưởng tài chính lớn hơn' (25%) là lý do hàng đầu, theo sau là 'mong muốn tự làm chủ' (20%), 'thách thức cá nhân' (18%), 'mong muốn xây dựng điều gì đó của riêng mình' (16%), và 'thất vọng với môi trường công ty' (13%).
Vào thập kỷ 1980, Gerhard Plaschka đã phỏng vấn 299 doanh nhân thành công và 63 doanh nhân thất bại ở Áo để nghiên cứu tiến sĩ Entrepreneurial Success: A Comparative, Empirical Study of Successful and Unsuccessful Company Founders (Thành công của doanh nhân: Một nghiên cứu so sánh, dựa trên thực tế, về những người sáng lập công ty thành công và không thành công). Đối với doanh nhân thành công, 'chứng tỏ khả năng bản thân' được xem là động cơ quan trọng nhất, tiếp theo là 'thực hiện ý tưởng của riêng mình' và 'đạt được quyền tự do quyết định và hành động'. Các động cơ tài chính, như kiếm được 'thu nhập theo kết quả', hướng tới 'độc lập về mặt kinh tế' và đạt được 'thu nhập cao hơn', nằm ở vị trí thứ 6, 9 và 11 trong số 22 động cơ được liệt kê.
[...]
Vào đầu những năm 1990, Sue Birley và Paul Westhead đã phỏng vấn 405 chủ sở hữu-quản lý về lý do họ chuyển sang tự kinh doanh. Một trong những lý do chính là sự độc lập – ví dụ: “có quyền tự do điều chỉnh phương pháp riêng cho phù hợp với công việc”. Tiếp theo là những động cơ về tài chính như “đảm bảo an toàn cho bản thân, bạn đời và con cái” hay “mong muốn có thu nhập cao”. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tiết lộ các động cơ đằng sau quyết định tự kinh doanh của một cá nhân không ảnh hưởng đến việc họ có thật sự thành công với doanh nghiệp của mình không.
[...]
Tuy nhiên, các nghiên cứu điều tra động cơ khởi nghiệp đã đem lại những kết quả rất khác nhau. Năm 2003, Nancy M. Carter, William B. Gartner, Kelly G. Shaver và Elizabeth J. Gatewood đã báo cáo kết quả so sánh động cơ của nhóm người tự kinh doanh với 179 nam giới và 205 nữ giới với một nhóm người làm thuê gồm 89 nữ giới và 85 nam giới. Động cơ chính của các nam và nữ doanh nhân là “mong muốn độc lập”, tiếp theo là “mong muốn thành công về tài chính”. Tuy nhiên, kết quả đáng ngạc nhiên của nghiên cứu là lý do lựa chọn nghề nghiệp của các doanh nhân và nhân viên không khác biệt đáng kể. “Các doanh nhân cũng giống như những người không phải là doanh nhân khi xét đến lý do họ đưa ra để lựa chọn nghề nghiệp, bao gồm tự hoàn thiện bản thân, thành công về tài chính, đổi mới và độc lập... Nhìn chung, những phát hiện này đi ngược lại quan niệm cho rằng doanh nhân có sự khác biệt về chất so với những người có lựa chọn nghề nghiệp khác.”
Sau khi đánh giá một số nghiên cứu, Locke và Baum kết luận rằng sự độc lập có thể là một yếu tố dự báo cho việc tự kinh doanh. Tuy nhiên, động cơ này có ý nghĩa ít hơn đối với khả năng thành công thật sự của các doanh nhân.329 Nathalie Galais đã đưa ra một góc nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu cho đến năm 1998. Bà đánh giá 19 bài báo khoa học nêu ra các động cơ khác nhau, bao gồm:
- Mong muốn tự chủ (“tự lập”, “tự do”, “phát triển bản thân”, “mở rộng khả năng cá nhân”)
- Mong muốn được công nhận
- Mong muốn cảm thấy hài lòng với công việc
- Mong muốn thu nhập cao (hoặc “thành công về tài chính”, “nâng cao tình hình tài chính”,...)
- Không hài lòng với môi trường làm việc trước đó.
- Trích từ cuốn sách 'Đọc vị tâm lý và hành vi của những người giàu có và siêu giàu -
