Vào một ngày xấu số của năm 1953, giáo sư John Wheeler đánh mất bản thiết kế chế tạo bom hydro, một loại bom lắp ráp như đồ chơi lego.
Hầu hết mọi người biết đến giáo sư John Wheeler với biệt danh 'cha đẻ của lỗ đen', mặc dù ông còn nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực khác như thuyết tương đối, thuyết lượng tử và công nghệ hạt nhân. Ông tham gia vào Dự án Matterhorn B vào đầu những năm 1950, một dự án mà sau này đã bị lên án mạnh mẽ, nhằm nghiên cứu và phát triển bom hydro.
Vào một ngày không may năm 1953, giáo sư Wheeler vô tình để lọt thông tin bí mật về việc chế tạo bom hydro trên một chuyến tàu từ New Jersey đến Washington. Đây là trường hợp điển hình của một người thông thạo trong lĩnh vực học thuật nhưng thường không để ý đến thế giới xung quanh. Nhưng sự kiện với John Wheeler là sự thật, và ông đã vô tình tiết lộ bí mật quốc gia.

Giáo sư John Wheeler.
Nhà sử học khoa học Alex Wellerstein đã kể lại chi tiết câu chuyện này trên tạp chí Physics Today. Wellerstein làm việc tại Viện Công nghệ Stevens ở New Jersey và nghiên cứu về lịch sử vũ khí hạt nhân cũng như lịch sử công nghệ hạt nhân. Anh mô tả bản thân là 'một con chuột cống trong hệ thống lưu trữ', duy trì một số cơ sở dữ liệu anh tự tạo và giữ gìn toàn bộ tài liệu từ nhiều nguồn, bao gồm từ các nhà sưu tập tư nhân và một số tài liệu quý hiếm anh tìm thấy.
Những nghiên cứu không được công bố trên các tạp chí hàng đầu thường được đăng trên blog Restricted Data của Wellerstein. Anh cũng duy trì hoạt động cho NUKEMAP, một công cụ tương tác giúp người dùng dựng mô hình tác động của vũ khí hạt nhân tại bất kỳ địa điểm nào họ chọn.
Wellerstein biết về câu chuyện của giáo sư Wheeler khi đọc tài liệu từ những năm 50 đã được Quốc hội Mỹ giải mật, cụ thể là số liệu từ Ủy ban Liên kết Năng lượng Nguyên tử. 'Đây là một ủy ban có quyền lực lớn trong những năm 50', anh Wellerstein chia sẻ với ArsTechnica. 'Có nhiều câu chuyện kỳ lạ từ đây, vì không có ai trong ủy ban nghĩ rằng một ngày những chi tiết này sẽ được công bố, nên họ thực sự ngạc nhiên'.

Tài liệu về bom hydro đã được giải mật và che lấp những thông tin quan trọng.
Thậm chí, tài liệu còn cho thấy có người tự hỏi tại sao ghi lại những chi tiết này khi không ai đọc được chúng? Họ không thể ngờ rằng sau này sẽ có một sử gia như Wellerstein sẽ đưa câu chuyện này ra ánh sáng.
Câu chuyện của giáo sư Wheeler thu hút Wellerstein không chỉ về lịch sử, mà còn về những chi tiết thú vị mà anh tìm thấy sau quá trình điều tra dài và gian nan. Nhưng câu chuyện chỉ từ một phía, là ông William Borden, giám đốc Ủy ban và cũng là người đã bị sa thải sau sự cố của giáo sư Wheeler, nên Wellerstein đã tìm trong các tài liệu cũ để tìm thông tin thêm. Anh còn sử dụng quyền lợi của Đạo luật Tự do Thông tin Hoa Kỳ (FOIA) để yêu cầu FBI cung cấp các tài liệu về giáo sư Wheeler.
'Họ đã nỗ lực tái hiện chính xác sự kiện, vì vậy họ đã đặt câu hỏi cho tất cả mọi người hàng triệu lần', Wellerstein nói. 'FBI trở thành cầu nối giữa Quốc hội, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử và ông Wheeler, bởi vì không có ai muốn hợp tác với nhau'.
Không chỉ là một bản báo cáo thông thường
Có gì đặc biệt trong tài liệu mà giáo sư Wheeler đã đánh mất? Đoạn trích từ bài viết của Wellerstein trên Physics Today sẽ giải đáp phần nào thắc mắc lớn: 'Tài liệu về bom hydro không chỉ là một bản báo cáo kỹ thuật thông thường. Nó là vũ khí chính trị của chính phủ nhắm vào kẻ địch chính trị của họ'.

Alex Wellerstein.
Năm 1949, Liên Xô thử nghiệm bom nguyên tử đầu tiên, tiếng nổ to lớn có thể đảo ngược bất kỳ ưu thế chiến lược nào mà Mỹ đã đạt được trước đó. Một số nhà vật lý, với hai nhân vật chính là Edward Teller và Ernest Lawrence, đề xuất giải pháp tháo gỡ tình hình là một loại vũ khí hạt nhân mới: bom hydro sử dụng sức mạnh từ phản ứng hợp hạch thay vì phân hạch; tuy nhiên vẫn cần một quả bom phân hạch để kích hoạt nó.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học, trong đó có J. Robert Oppenheimer, người từng lãnh đạo Dự án Manhattan và được gọi là 'cha đẻ của bom nguyên tử', không đồng ý với việc phát triển bom hydro; ông cho rằng công nghệ này là không cần thiết vào thời điểm đó. Tổng thống Harry Truman ủng hộ Teller và Lawrence, thông qua dự án bom hydro, nhưng nhóm nhà khoa học vẫn chưa đạt được sự đồng thuận.
Tháng Ba năm 1951, Teller và Stanislaw Ulam đề xuất một thiết kế cho bom hydro, một mô hình mà cả hai phe đều tin sẽ thành công. Bom thử nghiệm, biệt danh là 'Mike', nổ thành công vào tháng Mười một năm 1952. Tuy nhiên, Mike vẫn còn cần một hệ thống làm lạnh nặng 80 tấn để giữ nhiên liệu deuterium ở trạng thái lỏng.

Mike là quả bom hydro đầu tiên nổ thành công trên thế giới.
Trong khi đó, việc phát triển bom hydro đã trở thành một vấn đề chính trị, một cuộc 'nội chiến' giữa các nhà khoa học thuộc Ủy ban Liên kết Năng lượng Nguyên tử; nhiều người vẫn không đồng ý với Oppenheimer và phải nghe những chỉ trích từ ông. Trách nhiệm giải trình được giao cho giám đốc Borden: ông phải soạn sử liệu về lịch sử nghiên cứu bom hydro từ các tài liệu có sẵn, và bài viết của ông cũng phải ủng hộ chiến dịch chống lại Oppenheimer. Ông Borden gửi một bộ tài liệu gồm 6 trang cho Wheeler, mong muốn giáo sư từ Princeton kiểm tra công nghệ chế tạo bom.
Wheeler mang bộ tài liệu mật lên tàu đi Washington - ông định sẽ đọc ngay để không phải trả tiền khách sạn thêm một ngày nữa. Mặc dù Wheeler không chắc chắn về những gì đã xảy ra sau này, ông vẫn nhớ được một số chi tiết: ông đặt tài liệu mật vào một phong bì trắng, cho vào một phong bì lớn hơn màu vani, rồi đặt chúng vào cặp và tựa cặp vào tường, trong khi mình tựa vào cặp.
Theo chỉ dẫn của Wheeler, người trực toa trên tàu, Robert Jones, đã đánh thức giáo sư vào lúc 6 giờ 45 phút sáng. Sau đó Wheeler mang cặp táp vào phòng vệ sinh cuối toa để vệ sinh cá nhân. Dưới đây là trích đoạn từ bài viết của Wellerstein trên Physics Today:
Wheeler để cặp trên bệ đặt bồn rửa mặt, mang phong bì màu vani vào phòng vệ sinh và đóng cửa lại. Vì không tìm thấy chỗ đặt phong bì, ông cài nó vào khe giữa ống nước và tường toa-lét, gần cửa sổ. Sau khi vệ sinh, ông nhận ra mình đã bỏ quên phong bì trong toa-lét.
Lúc đó, có hai người đang sử dụng bồn rửa mặt và một người đang ngồi trong phòng vệ sinh. Wheeler quyết không để lịch thiệp ngăn cản ông bảo vệ bí mật quốc gia. Ông trèo lên bồn rửa mặt và cố nhìn qua cửa nhà vệ sinh. Ông không thấy phong bì nhưng thấy một người đàn ông không đọc gì. Wheeler quan sát người đó cho tới khi anh ta ra khỏi phòng, sau đó ông nhanh chóng lấy lại phong bì nằm sau ống nước. Phong bì vẫn nguyên vẹn.
Khi Wheeler mở phong bì ra, ông phát hiện phong bì trắng chứa tài liệu mật đã mất. Cùng với sự trợ giúp của người trực toa, Wheeler tìm kiếm phong bì trên cả tàu, thậm chí hỏi cả ban nhận đồ thất lạc nhưng không thành công. FBI đã tiến hành điều tra nhưng không tìm thấy tài liệu nào.

Sơ đồ toa xe lửa nơi John Wheeler nghỉ đêm mùng 6/1/1953.
Tài liệu mật biến mất vĩnh viễn, không ai biết chúng ở đâu. Có nhiều giả thuyết về việc này. Wellerstein tin rằng người trực toa có thể đã tìm thấy tài liệu nhưng không báo cáo, vì họ nghĩ rằng không làm gì cũng hơn. Một số nghĩ rằng điệp viên có thể đã lấy đi tài liệu, nhưng không có bằng chứng nào chứng minh điều này.
Theo Wellerstein, việc Wheeler mất tài liệu diễn ra vào thời điểm nhạy cảm, đặc biệt là khi bom hydro khác biệt hoàn toàn với bom hạt nhân. Điều này khiến Mỹ mất ưu thế chiến lược và đối mặt với nguy cơ công nghệ mật rơi vào tay đối phương.
Với các nhà lập pháp và quân đội, mất mát này là một sự thất bại lớn, đặc biệt khi đối mặt với nguy cơ công nghệ mật rơi vào tay đối phương.
'Bom hydro được xem là một yếu tố mang lại ưu thế lớn, vì các điệp viên trong Dự án Manhattan không biết nhiều về nó. Bạn có kiến thức cơ bản để tạo ra nó, nhưng thực tế không có một quả bom hydro nào trong tay. Bây giờ có thêm nguy cơ mất lợi thế hoàn toàn nếu công nghệ này rơi vào tay quân Xô-viết', theo nhận định của anh Wellerstein.
Việc mất số tài liệu này đã đẩy sự nghiệp chính trị của nhiều người vào bế tắc, giám đốc Borden là một trong số những nạn nhân. Sau khi bị sa thải, ông Borden quay về nghiên cứu luật và trở thành ... một nhà phê phán âm mưu toàn thời gian. Ông đặc biệt thù oán với giáo sư Oppenheimer, và chiến dịch tấn công vào nhà vật lý nổi tiếng này đã đóng góp vào việc Oppenheimer bị mất quyền đặc cách an ninh.
Còn giáo sư Wheeler, người đã đánh mất số hồ sơ mật, thì sao? Ông không bị kết án, chỉ nhận được một bức thư khiển trách nặng từ Ủy ban. 'Với vai trò một nhà khoa học, ông quá quan trọng. Họ nói rằng họ không thể trừng phạt ông mà không ảnh hưởng đến chương trình phát triển hạt nhân', Wellerstein tổng kết.
Tham khảo ArsTechnica
