
| Viêm phổi | |
|---|---|
| Hình X quang vùng ngực thể hiện viêm phổi do vi khuẩn có dạng hình nêm rất rõ ở phổi phải. | |
| Chuyên khoa | khoa hô hấp, bệnh truyền nhiễm |
| ICD-10 | J12, J13, J14, J15, J16, J17, J18, P23 |
| ICD-9-CM | 480-486, 770.0 |
| DiseasesDB | 10166 |
| MedlinePlus | 000145 |
| eMedicine | topic list |
| Patient UK | Viêm phổi |
| MeSH | D011014 |
Viêm phổi là tình trạng viêm nhiễm tổ chức phổi (phế nang, tổ chức liên kết kẽ và tiểu phế quản tận cùng), chủ yếu ảnh hưởng đến các túi khí nhỏ gọi là phế nang. Bệnh thường do nhiễm trùng từ virus, vi khuẩn, nấm và ít phổ biến hơn là ký sinh trùng. Ngoài ra, viêm phổi còn có thể do hóa chất độc hại.
Triệu chứng thường gặp gồm cảm, đau ngực, sốt và khó thở.
Viêm phổi ảnh hưởng đến khoảng 450 triệu người mỗi năm trên toàn thế giới, gây ra khoảng 4 triệu ca tử vong. Vào thế kỷ XIX, William Osler gọi viêm phổi là 'thủ lĩnh của những kẻ gieo rắc cái chết'. Sự ra đời của kháng sinh và vắc-xin trong thế kỷ XX đã cứu sống nhiều người, nhưng viêm phổi vẫn là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển và trong số những người rất già, rất trẻ và mắc bệnh mãn tính.
Nguyên nhân

Viêm phổi có thể là biến chứng từ bệnh sởi, ho gà, cúm, viêm phế quản, hen suyễn, hoặc các bệnh đường hô hấp trên như viêm họng, nhiệt miệng, viêm amidan, viêm xoang, và các bệnh nặng khác. Nhiều trường hợp viêm phổi do vi trùng Pneumococcus gây ra, nhưng cũng có thể do các vi trùng khác, siêu vi trùng, ký sinh trùng hoặc nấm.
Triệu chứng
- Thở nhanh, nông, đôi khi thở rít và cánh mũi phập phồng. Ho có đờm vàng, có thể dính máu. Đau ngực. Trẻ em bị ốm nặng mà thở nông trên 50 lần/phút có thể đang bị viêm phổi.
Dịch tễ học
| không dữ liệu <100 100–700 700–1400 1400–2100 2100–2800 2800–3500 | 3500–4200 4200–4900 4900–5600 5600–6300 6300–7000 >7000 |
Viêm phổi là căn bệnh phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 450 triệu người trên toàn thế giới. Bệnh gây tử vong cho khoảng 4 triệu người mỗi năm, chiếm 7% dân số toàn cầu. Tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi và người già trên 75 tuổi, với tần suất cao gấp 5 lần ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển. Số ca viêm phổi do virus chiếm khoảng 200 triệu. Tại Hoa Kỳ, đến năm 2009, viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong xếp thứ 8. Mỗi năm có khoảng 4 triệu người mắc viêm phổi, chủ yếu do Pneumococcus, và khoảng 40.000 người tử vong. Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến người trên 65 tuổi phải nhập viện. Những người có hệ miễn dịch suy giảm (như bệnh nhân AIDS, bệnh thận,...) cũng dễ bị viêm phổi Pneumococcus.
Trẻ em
Năm 2008, có khoảng 156 triệu ca viêm phổi ở trẻ em (151 triệu ở các nước đang phát triển và 5 triệu ở các nước phát triển). Năm 2010, bệnh này khiến 1,3 triệu trẻ tử vong, chiếm 18% tổng số ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó 95% xảy ra ở các nước đang phát triển. Các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất bao gồm Ấn Độ (43 triệu), Trung Quốc (21 triệu) và Pakistan (10 triệu). Viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em các nước thu nhập thấp, đặc biệt trong giai đoạn sơ sinh. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính cứ ba trẻ sơ sinh tử vong thì có một trẻ chết vì viêm phổi. Khoảng một nửa số ca tử vong này có thể ngăn chặn được bằng vắc-xin nếu nguyên nhân là vi khuẩn.
Biến chứng
Vi trùng Pneumococcus từ phổi có thể lan vào máu, gây nhiễm trùng máu (bacteremia), rồi lan đến các cơ quan khác như màng não, tim, khớp... Khi nhiễm trùng máu hoặc viêm màng não xảy ra, tỷ lệ tử vong rất cao.
Phương pháp điều trị
Nguyên tắc điều trị là kịp thời, mạnh mẽ, đủ liệu trình và theo dõi sát sao diễn biến bệnh.

B: Phổi phải bị viêm
Điều trị nguyên nhân gây bệnh
- Sử dụng kháng sinh như: penicillin, sulfonamides.
- Trường hợp nặng: Tiêm penicillin procain: Người lớn tiêm 2 đến 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 400.000 đơn vị. Hoặc tiêm ampicillin: người lớn tiêm 4 lần mỗi ngày, mỗi lần 500 mg. Trẻ em dùng liều bằng 1/2 đến 1/4 so với người lớn.
Điều trị triệu chứng
- Giảm sốt và giảm đau: sử dụng aspirin, acetaminophen.
- Nếu bệnh nhân thở khò khè: dùng thuốc hen như theophylline hoặc ephedrine.
Hỗ trợ điều trị
- Uống nhiều nước hoặc hít hơi nước nóng.
- Nếu không ăn được: cho ăn thức ăn lỏng.
Tiêm chủng vắc-xin
Hiện nay, tiêm phòng vắc-xin là một biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa bệnh viêm phổi do vi khuẩn Pneumococcus. Theo Viện Cao niên Quốc gia tại Hoa Kỳ, vắc-xin ngừa viêm phổi Pneumococcus được tài trợ bởi chương trình Medicare, tuy nhiên vẫn có rất nhiều người cao tuổi hoặc mang các bệnh mãn tính chưa được tiêm phòng. Các chỉ tiêu đã từng từ năm 2000, Cơ quan Y tế Công cộng hy vọng trên 60% dân số Mỹ sẽ được tiêm phòng.
Vi khuẩn Pneumococcus có nhiều dòng khác nhau, mặc dù chung một giống. Vắc-xin ngừa viêm phổi Pneumococcus chứa các thành phần từ 23 dòng vi khuẩn Pneumococcus khác nhau. Vắc-xin này được tiêm vào cơ thể để kích thích sản xuất kháng thể chống lại các dòng vi khuẩn này.
Đa số người khỏe mạnh sẽ có kháng thể chống lại hầu hết các dòng vi khuẩn Pneumococcus sau 2-3 tuần tiêm phòng, giúp họ tránh được nguy cơ mắc bệnh viêm phổi do vi khuẩn này (hiệu quả bảo vệ từ 85-95%). Tuy nhiên, người cao tuổi và những người mang các bệnh mãn tính thường không sản xuất kháng thể tốt như người khỏe mạnh, do đó sự bảo vệ của vắc-xin có thể thấp hơn. Trẻ em dưới 2 tuổi cũng có trường hợp tương tự.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Mỹ khuyến cáo các bác sĩ nên tiêm vắc-xin ngừa viêm phổi Pneumococcus cho những người thuộc các nhóm nguy cơ cao sau đây, vì họ có thể gặp nguy hiểm tính mạng nếu mắc bệnh viêm phổi Pneumococcus:
- Những người từ 65 tuổi trở lên, ngay cả khi không có bất kỳ bệnh lý nào nghiêm trọng.
- Trẻ em trên 2 tuổi và người lớn dưới 65 tuổi mang các bệnh mãn tính như bệnh tim mạch, bệnh phổi, suy thận, tiểu đường, AIDS, ung thư,... hoặc đang sử dụng các loại thuốc làm giảm sức đề kháng của cơ thể, như corticosteroid, thuốc chống ung thư.
- Những người đã từng phẫu thuật cắt bỏ cơ quan (như ghép tạng), chẳng hạn như ghép thận.
- Những người bị xơ gan (cirrhosis), hoặc người có nguy cơ cao bị xơ gan do nghiện rượu.
Về cơ bản, một mũi tiêm phòng sẽ bảo vệ suốt đời, nhưng những người sau đây nên tiêm lại sau mỗi 5 năm vì hiệu quả bảo vệ giảm dần theo thời gian:
- Không còn lá lách (hoặc lá lách bệnh, không thể làm việc bình thường);
- Bệnh thận;
- Hội chứng thận hư (nephrotic syndrome: thận không giữ được chất đạm, khiến chất đạm bị thất thoát ra nước tiểu);
- Thay ghép cơ quan;
- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease) do hút thuốc lá;
- Tuổi trên 65, nếu đã qua 5 năm từ lần tiêm trước.
Sau khi tiêm phòng, thường chỉ có chút đau và đỏ tại chỗ tiêm. Một số người có thể đau và đỏ nhiều hơn, có khi có cả cảm giác nóng sốt và mỏi nhức ở các cơ bắp (dưới 1% các trường hợp tiêm phòng). Hiếm khi có người phản ứng nặng (anaphylaxis), gây nguy hiểm đến tính mạng (khoảng 5/1.000.000 người phản ứng nặng).
Năm 2005, vì hãng thuốc Chiron của Anh cung cấp nửa số thuốc tiêm phòng cúm tại Hoa Kỳ, điều này có thể dẫn đến tăng số ca sưng phổi do vi khuẩn Pneumococcus vào năm 2006 và sau đó.
Lịch trình chủng ngừa tại Úc đã chỉnh sửa
| Tuổi | HBV | Tet | Diph | Pert | Polio | HIB | Pnm* | ROT | MMR | Men | Var | Flu | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mới sinh | X | 'HBV: Viêm gan siêu vi B;Tet: Bệnh uốn ván ;Diph: Bệnh bạch hầu; Pert: Bệnh ho gà;Polio: Bệnh viêm tủy xám; HIB: Viêm màng não do Hemophilus influenzae B; Pnm* (loại 7vPCV) : Viêm màng não do Pneumococcus (trẻ em); Pnm* (loại 23vPPV): Viêm phổi do Pneumococcus (người lớn tuổi);ROT: Tiêu chảy do Rotavirus MMR: Bệnh sởi, Quai bị và Sởi Đức; Men: Viêm màng não do MeningococcusVar Bệnh thủy đậu; Flu: Bệnh cúm | |||||||||||
| 2 tháng | X | X | X | X | X | X | X | X | x | ||||
| 4 tháng | X | X | X | X | X | X | X | X | x | ||||
| 6 tháng | X | X | X | X | X | X | X | x | |||||
| 12 tháng | X | X | x|x | ||||||||||
| 18 tháng | X | ||||||||||||
| 4 tuổi | X | X | X | X | X | ||||||||
| 10-13 tuổi | X | X | |||||||||||
| 15-17 tuổi | X | X | X | ||||||||||
| Trên 64 tuổi | X | X |
Nguồn: Trung tâm tiêm chủng Úc
