
Nói về Quảng Ngãi hiện nay, Trà Bồng vẫn là con sông mạnh mẽ và trong xanh nhất. Đối với một vùng quê, khi có một con sông vẫn còn nguyên vẹn và không bị ô nhiễm, đó cũng chính là sự sống.
Bài thơ Khát khao quê hương sông núi của Tế Hanh viết về Trà Bồng, con sông chảy qua làng Đông Yên, xã Bình Dương, quê ông. Dòng sông cũng giống như bài thơ, khi còn màu xanh là còn sự sống.
Nổi bật trong giai đoạn cuối của thời kỳ lãng mạn 1930-1945, thơ của Tế Hanh đặc biệt ở sự giản dị, trong sáng và tự nhiên. Thơ cần phải có yếu tố tự nhiên, không chủ định từ trước, như là thoát ra từ tiềm thức.
Thơ của ông rất giản dị. Vầng trăng rạng rỡ vẫn làm cho ánh sáng vượt qua những đám mây, làm cho nắm bắt nó trở nên khó khăn. Nếu đọc tác phẩm của ông quá nhanh, người ta có thể nhầm lẫn rằng ông là một nhà thơ theo bản năng. Nhưng không phải. Tế Hanh là một nhà thơ sâu sắc, ông đã đọc nhiều tác phẩm hiện đại của phương Tây, đặc biệt là thơ hiện đại Pháp. Kiến thức về thơ của ông rất phong phú, và mặc dù ít nói, nhưng mỗi khi nói đến thơ, Tế Hanh luôn có những nhận xét đáng chú ý.
Đó cũng là cách mà con sông chảy qua quê hương của ông hoạt động, trong sạch, tinh tế nhưng vẫn ẩn chứa nhiều điều. Thơ của Tế Hanh hứa hẹn sẽ sống mãi trong lòng người Việt yêu thơ, cũng từ những điều ẩn chứa ấy.
“Có những buổi trưa, tôi đứng dưới hàng cây
Bỗng nghe lòng tràn đầy một nỗi buồn
Hình ảnh dòng sông quê hương tươi mát
Dòng sông êm đềm...
Cảm giác bất ngờ đột nhiên len lỏi. Nó thấm vào lòng đọc giả, làm cho mọi cảm xúc trở nên nhẹ nhàng và tinh tế. Nói về thơ, như việc nhận lấy dòng nước trên dòng sông mát lành.
Mỗi nhà thơ đều có cách biểu đạt riêng để trình bày tác phẩm của mình trước thế giới. Với Tế Hanh, ông đã tiếp xúc với thế giới qua sự trong sáng và lòng nhân hậu của mình.
Rời bỏ và trở lại với dòng sông, thơ của Tế Hanh là một cuộc trò chuyện không ngừng nghỉ với dòng nước quen thuộc của cuộc đời. Thơ không phải là những lời nói ồn ào, mà là dòng chảy êm đềm trong hành trình văn hóa nghệ thuật của nhân loại. Nhớ về thời kỳ chiến tranh, những bài thơ còn sót lại là những tiếng nói nhỏ nhẹ giữa những trận đạn bom, dành riêng cho tâm hồn con người.
Tôi vẫn nhớ, vào năm 1979, khi tôi đầu tiên được trao giải thơ hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Dấu dấu qua đồng cỏ, Tế Hanh đã viết bài đánh giá về tập thơ này. Trong tất cả những bài thơ về chiến tranh trong tập thơ đó, Tế Hanh đã chọn bài thơ Tiếng ve, một bài thơ tôi đã “tô điểm” cho tiếng ve, rất yên bình, khi tiếng bom tạm thời ngừng trong rừng chiến khu. Tế Hanh đã khen ngợi phần nghệ thuật “tô điểm âm thanh” của bài thơ đó. Nhưng tôi biết, ông cảm thấy đồng cảm với tôi trong cảm giác yên bình ngay cả trong chiến tranh. Thơ của Tế Hanh cũng thật yên bình, như con người ông. Nhưng sự sâu sắc 'ẩn giấu' của nhà thơ này chỉ thỉnh thoảng mới được ông hé lộ.
Cách đây hơn mấy chục năm, khi tôi đến thăm Quy Nhơn, ông nói với tôi: “Mình thích thơ hiện đại của phương Tây, đặc biệt là thơ hiện đại của Pháp”. Tôi hỏi ông thích ai trong số những nhà thơ hiện đại Pháp, Tế Hanh nói: “Mình thích Aragon, đặc biệt là những tác phẩm của ông trong thời kỳ sau mà ở đây chưa dịch. Thơ của Aragon trôi chảy như một dòng sông lớn. Mình thích Eluard. Thơ của ông làm dịu dàng nhưng rất khó nắm bắt. Mình thích thơ của Rene Char, một nhà thơ Pháp tham gia kháng chiến chống phát xít nhưng lại viết thơ u ẩn như một thiền sư phương Đông. Mình thích thơ của Saint-John-Perse, thơ của ông có kiến trúc hoành tráng và đầy quyến rũ như những con sóng dữ dội. Mình thích Andre Breton, nhưng chỉ thích phần lý luận về thơ của ông này, chứ không thích thơ của ông nhiều. Mình thích…”. Tôi nghe như đang nuốt từng từ của ông.
Người làm thơ thường học hỏi lẫn nhau, thế hệ trước truyền cho thế hệ sau những trải nghiệm và nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm. Tôi đã học được nhiều điều từ Tế Hanh, Xuân Diệu, Văn Cao… Rất uyên bác, nhưng Tế Hanh viết thơ rất chân thành và trong sáng. Ông vẫn là chính ông, cho dù qua bao thăng trầm của cuộc đời.
Nếu chỉ được nói hai từ về thơ của Tế Hanh, tôi sẽ chọn hai từ là 'ẩn chứa'. Ẩn chứa, đó cũng là bí mật của dòng sông.
Theo THANH THẢO - Văn học Sài Gòn
