
Sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam – từ một trong năm quốc gia nghèo nhất thế giới năm 1985 trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất - đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng về môi trường: các dòng sông ô nhiễm, suy giảm đa dạng sinh học và chất lượng không khí kém ở các thành phố lớn như TP.HCM và Hà Nội. Kết quả là nhiều người trẻ, được truyền cảm hứng từ mạng xã hội, đã thành lập các tổ chức như “Be the Change Agents” để vận động làm sạch môi trường.

Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có hơn 277 loài san hô, 270 loài cá rạn, 4 loài tôm hùm và 97 loài nhuyễn thể. Dù đa dạng sinh học không sánh bằng rạn san hô Great Barrier hay Tam giác San hô ở Biển Đông, nhưng Cù Lao Chàm đã được công nhận là mô hình du lịch sinh thái xuất sắc, không gặp phải các vấn đề ô nhiễm điển hình như khai thác tận diệt, nước thải không xử lý, san hô bị thu hoạch, hay du khách thiếu ý thức.
Một số nhà khoa học biển sẽ nhanh chóng chỉ ra rằng việc thành lập các khu bảo tồn biển gặp nhiều khó khăn như sự phát triển kinh tế quá nhanh, dân số gia tăng, nhận thức về môi trường còn thấp, giới hạn về ngân sách của chính phủ, sự phản đối từ những người sợ mất sinh kế, thiếu dữ liệu kinh tế xã hội, và đôi khi là bộ máy quan chức thiếu nhiệt tình và chuyên môn.
Cư dân trên đảo luôn tôn vinh văn hóa, lịch sử và những câu chuyện của họ. Một số câu chuyện rực rỡ của họ có thể dễ dàng nhận ra ngay, như chúng ta thấy loài cá vẹt cắn rạn san hô. Những ngư dân khác cần thời gian chia sẻ mới biết được những câu chuyện biển của họ.
Biển Đông, nơi từng chứng kiến cá voi bị săn bắt và mắc cạn, là nơi sinh sống của hơn 1/3 số cá voi trên biển, tất cả đều có tên trong Phụ lục của Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp.

Dữ liệu gần đây dựa trên hiểu biết của ngư dân địa phương về sinh thái đã cung cấp bằng chứng cho thấy một phần hoặc toàn bộ Biển Đông là khu vực cư trú quan trọng của các loài động vật có vú thủy sinh với sự đa dạng loài cao, xứng đáng được quan tâm bảo tồn đặc biệt nhưng lại bị xem nhẹ. Đó là lý do tôi nói chuyện với những ngư dân này về các loài động vật có vú ở biển.
Người Chăm tin tưởng rằng vào những câu chuyện thần thoại về cá voi, loài vật đã bảo vệ ngư dân và tổ tiên của họ qua nhiều thế hệ. Trong quyển sách 'Tín ngưỡng thờ cá voi ở Việt Nam', học giả Sandra Lantz ghi lại rằng khi phát hiện cá voi chết ở biển, ngư dân sẽ kéo con vật vào bờ và chôn cất trang trọng. Nghi lễ này được gọi là “tục thờ cá Ông”.
Cư dân ở Cù Lao Chàm và các vùng lân cận tổ chức nghi lễ đặc biệt không chỉ dành cho cá voi, mà còn cho cá heo và cá heo chuột vì chúng đều thuộc Bộ Cá voi.
Ông Nguyễn Toàn Hoàng, một ngư dân sáu mươi tuổi sinh ra ở Cù Lao Chàm, chia sẻ: 'Việc đánh bắt của chúng tôi vẫn tốt không chỉ vì chúng tôi bảo vệ các rạn san hô và cá voi. Chúng không thể bị tổn hại; nếu điều đó xảy ra, việc đánh bắt của chúng tôi sẽ gặp vấn đề'.
Có gần 20 loài động vật có vú thủy sinh khác nhau được tìm thấy ở Biển Đông và ven biển Việt Nam, như cá voi lưng gù, cá nhà táng nhỏ, cá nhà táng lùn, cá heo răng nhám, cá heo lưng gù An Độ Dương, cá heo mũi chai Ấn Độ Dương, cá heo đốm nhiệt đới, cá heo quay, cá heo sọc, cá heo thông thường, cá voi đầu dưa, cá voi sát thủ lùn, cá voi hoa tiêu vây ngắn, cá heo sông Irrawaddy, và cá heo không vây. Rất không may, việc săn bắt cá voi vẫn tồn tại, đe dọa tới sự sống của chúng. Đặc biệt, cá voi trơn Bắc Đại Tây Dương - loài hiếm nhất trên thế giới với khoảng 500 cá thể còn lại. Khi trưởng thành, chúng có thể dài tới 15 mét và nặng 70 tấn.
Rõ ràng rằng tất cả cư dân trên đảo đều kính trọng sâu sắc cá voi. Dường như trong tính cách dân tộc Việt Nam, nước - hay chính xác hơn là Biển Đông - là thứ thiêng liêng và là một phần của nhận thức về tự nhiên của họ. Điều này được phản ánh qua truyền thống lâu đời của họ với biển cả. Điều này cũng giải thích tại sao cuộc sống của tổ tiên họ liên quan mật thiết đến biển cả và đầy truyền thuyết và thần thoại.

Ngư dân ở Việt Nam coi trọng tất cả các loài cá voi, nhưng đặc biệt là cá Chuông và cá nhà táng. Nếu một con cá voi mắc cạn, dân chài sẽ nỗ lực giải cứu. Nếu cá chết, dân làng sẽ đối xử với xác cá voi một cách tôn kính, sử dụng xương để lập đền thờ. Xác của nó sẽ được chôn cất một cách thành kính và sau này được đào lên để thờ cúng.
Người Việt tin rằng nếu không tôn trọng cá voi, họ có thể gặp phải những rủi ro như hỏng lưới, không bắt được cá, tàu thuyền hỏng hóc, hoặc bị bệnh tật.
Nghiên cứu của Lantz cho thấy cá Ông là biểu tượng của sự kính sợ và tôn trọng. Những con cá voi sống cũng được tôn trọng. Những người theo tục thờ cá Ông không bao giờ săn bắt các loài cá này, mà coi chúng như là những con thú khổng lồ. Xác của các con cá voi chết tự nhiên được chôn cất và sau đó được khai quật để thờ cúng.
Tang lễ cho cá voi luôn thu hút đông đảo người dân. Mặc dù Hiến pháp Việt Nam bài trừ 'mê tín dị đoan' nhưng tục thờ cúng cá voi vẫn là một phần sâu sắc của văn hóa Việt Nam.
Sự tôn sùng này đã tạo ra nhiều đền chùa, bao gồm chùa Hải Tạng trên Cù Lao Chàm, một ngôi chùa xinh đẹp xây dựng từ hơn 250 năm trước tại một thung lũng nhỏ yên bình với cánh đồng lúa và rau mà dân trồng gần đó. Khắp đất nước, có hàng chục đền chùa được xây dựng riêng để thờ cúng các con cá voi chết vì tự nhiên và trôi dạt vào bờ biển.
Ngư dân kể lại những câu chuyện thần thoại và những câu chuyện về sự cứu mạng của cá voi hoặc cá heo lớn khi họ đánh bắt xa bờ biển, thậm chí đưa thuyền của họ về nơi an toàn trong cơn bão. Cá voi không bao giờ bị săn bắt ở Việt Nam, điều này đã tạo ra nhiều giai thoại, ví dụ như việc vua Gia Long sắc phong cá voi là “Nam Hải Đại tướng quân”. Gần đây, các nghi lễ trên bãi biển đã mang lại niềm vui cho cư dân địa phương và hy vọng vào một mùa đánh bắt thành công.

Ở bờ biển Việt Nam, việc thờ cúng Cá voi lớn và coi chúng như thần hộ mệnh là một hiện tượng tôn giáo gần như duy nhất ở đất nước này. Mặc dù đã có nỗ lực chính trị hóa huyền thoại này, nhưng vẫn có những nghiên cứu mới để chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Các học giả như cố Giáo sư Trần Quốc Vượng lập luận rằng việc dựng nước của Việt Nam đã có liên quan mật thiết với nước. Lịch sử liên quan đến nước được thể hiện trong thần thoại, câu chuyện lịch sử và truyền thống dân gian.
Giáo sư Vượng muốn đặt ra một mô hình tư duy về biển, mang đến cho người Việt cái bản sắc đa sắc tộc dựa trên văn hóa cổ xưa nhưng vẫn đầy ý nghĩa và ảnh hưởng đối với cả cộng đồng ngày nay, và đó là tình yêu của họ đối với Biển Đông và ngư dân.
Tuy nhiên, các kết luận từ các chính sách hướng biển của Việt Nam liên quan đến thương mại hàng hải thời xưa dường như không liên quan gì đến cuộc sống của ngư dân ở đây.
Một số ngư dân lớn tuổi ngồi trong quán cà phê gần đó, nhìn ra bến tàu nguyên sơ của Cù Lao Chàm, kể cho tôi nghe về cuộc sống của cá voi trong sự tối tăm của đại dương, nhưng cũng nhấn mạnh rằng những sinh vật vĩ đại này đã mang lại cho họ nhiều kiến thức về sự sống dưới biển. Tuy nhiên, như Herman Melville từng nói, mọi nỗ lực để giải thích thế giới một cách chắc chắn và súc tích đều là vô ích.
Suốt hàng thế kỷ, đại dương đã tạo ra vô số huyền thoại, truyền thuyết và sự kiện mà con người vẫn chưa hiểu rõ. Như Plutarch từng viết: “Đối với cá heo, thiên nhiên đã ban tặng cho chúng một sự tốt lành mà người ta luôn tìm kiếm: tình bạn không vụ lợi.”
Biển Đông có hơn 73.000 hòn đảo với các quần đảo xa bờ như Hoàng Sa và Trường Sa, nơi có môi trường biển đặc thù với các rạn san hô vòng. Những rạn san hô này thường đi kèm với các vụng biển và là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển.
Trong quyển Biển Việt Nam và các giao thương biển, Giáo sư Nguyễn Văn Kim, giám đốc Trung tâm Biển và Hải đảo tại Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nhấn mạnh rằng biển không chỉ là nguồn sống mà còn là nơi ghi dấu nhiều truyền thuyết trong tâm trí người Việt. Trong tác phẩm của ông, có một nghiên cứu về tác phẩm hư cấu Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, được viết vào thế kỷ 14. Theo tác phẩm này, thần biển Lạc Long Quân đã giúp đỡ ngư dân và thuyền buôn chống lại loài thủy quái (Ngư Tinh) - loài quái vật lớn mặc dù nguy hiểm ở Biển Đông. Ngư Tinh được cho là tạo ra những đợt sóng lớn khi thuyền qua, nhưng Lạc Long Quân đã chiến đấu và tiêu diệt chúng.
Người Việt sống ở các vùng ven biển biết ơn biển đã mang lại cho họ cuộc sống. Niềm tin vào sức mạnh của đại dương đã gợi lên chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo. Một tài liệu viết bằng tiếng Chăm vào thế kỷ 17 tại miền Trung Việt Nam kể lại một người đàn ông địa phương đã chết đuối khi thuyền của anh ta chìm trong một trận bão sau khi nghiên cứu phép thuật Mã Lai. Một con cá voi đã đưa thi thể anh ta vào bờ, được dân làng tôn kính.
Các quốc gia có lãnh thổ ở Biển Đông nên học hỏi từ lịch sử, truyền thuyết và áp dụng khoa học của Cù Lao Chàm, vì mối quan hệ với đại dương sẽ được kết nối với tín ngưỡng xa xưa, truyền thuyết và hệ sinh thái biển bền vững. Cư dân trên đảo đã thực hiện điều mà Tiến sĩ Sylvia Earle, nhà khoa học biển hàng đầu từng làm việc tại Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ, tin rằng: “Mỗi giọt nước chúng ta uống, mỗi hơi thở chúng ta hít vào, đều kết nối với biển cả”.
