
| Bộ Gặm nhấm | |
|---|---|
| Thời điểm hóa thạch: Paleocen– gần đây, 56–0 triệu năm trước đây TiềnЄ
Є
O
S
D
C
P
T
J
K
Pg
N
| |
Chiều kim đồng hồ từ góc trái trên cùng: Chuột lang nước, Pedetes, Callospermophilus lateralis, Chuột nhắt nhà và Hải ly Bắc Mỹ đại diện cho các phân bộ: Hystricomorpha, Anomaluromorpha, Sciuromorpha, Myomorpha, and Castorimorpha theo thứ tự. | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Phân thứ lớp (infraclass) | Eutheria |
| Liên bộ (superordo) | Euarchontoglires |
| Bộ (ordo) | Rodentia Bowdich, 1821 |
| Phân bộ | |
| |
Bộ dụng cụ nhai (Rodentia) (từ tiếng Latin: 'Rodere' nghĩa là 'gặm') là một Bộ động vật có vú đặc trưng bởi một cặp răng cửa liên tục phát triển ở mỗi hàm trên và hàm dưới, và cần được giữ ngắn bằng cách gặm nhấm. Khoảng 40% tất cả các loài động vật có vú là loài gặm nhấm (2.277 loài); chúng được tìm thấy với số lượng lớn trên tất cả các châu lục ngoại trừ Nam Cực. Chúng là loài động vật có vú đa dạng nhất và sống trong nhiều môi trường trên cạn, bao gồm cả môi trường do con người tạo ra. Các loài gặm nhấm phổ biến là chuột nhắt, chuột cống, sóc, sóc chuột, chuột túi (không nhầm với kangaroo (Macropus spp.), đôi khi cũng được gọi là chuột túi), nhím lông, hải ly, chuột nhảy (gerbil), chuột lang, hamster (chuột đất vàng). Động vật gặm nhấm có các răng cửa sắc mà chúng dùng để gặm nhấm gỗ, thức ăn và cắn kẻ thù. Phần lớn động vật gặm nhấm ăn hạt hay thực vật, mặc dù một số có khẩu phần thức ăn biến đổi hơn. Một vài loài là những động vật phá hoại, ăn và tàn phá các kho dự trữ lương thực của loài người cũng như là nguồn gốc lan truyền dịch bệnh.
Kích thước và phân bố
Về số lượng loài — không nhất thiết phải tính theo số lượng quần thể hay sinh khối — động vật gặm nhấm là bộ lớn nhất của lớp Thú. Người ta ước tính có khoảng 2.277 loài động vật gặm nhấm , với trên 40% các loài động vật có vú thuộc về bộ này. Thành công của chúng có lẽ là do kích thước nhỏ của chúng, chu kỳ sinh sản ngắn, khả năng gặm nhấm và ăn các loại thực phẩm khác nhau.
Động vật gặm nhấm được tìm thấy gần như trên mọi châu lục (ngoại trừ châu Nam Cực), phần lớn các hòn đảo, và gần như trong mọi môi trường sinh sống (ngoại trừ đại dương). Chúng cũng là bộ động vật có nhau thai duy nhất, ngoài dơi (bộ Chiroptera) và hải cẩu (Pinnipedia), có thể tới khu vực Australia mà không cần sự du nhập của con người.
Đặc điểm đặc trưng

Nhiều loài động vật gặm nhấm có kích thước nhỏ; ví dụ như chuột lùn châu Phi chỉ dài 6 cm và nặng chỉ 7 gram. Trong khi đó, chuột lang nước có thể nặng tới 45 kg (100 pound) và loài tuyệt chủng Phoberomys pattersoni được cho là nặng tới 700 kg. Loài tuyệt chủng Josephoartigasia monesi có thể nặng khoảng 1 tấn, với cá thể lớn nhất có thể nặng trên 2,5 tấn.
Động vật gặm nhấm có 2 răng cửa trên mỗi hàm liên tục mọc ra và chúng phải được giữ ngắn bằng cách gặm nhấm để mài mòn; đây là nguồn gốc của tên gọi khoa học của bộ, từ tiếng La tinh rodere có nghĩa là gặm nhấm và dens, dentis nghĩa là răng. Các răng này được sử dụng để cắt gỗ, cắn vỏ hoa quả hoặc phòng thủ. Chúng có lớp men răng ở mặt ngoài và lớp ngà răng lộ trần ở mặt trong, do đó chúng tự mài sắc trong quá trình gặm nhấm. Động vật gặm nhấm thiếu răng nanh, dẫn đến khoảng trống giữa răng cửa và răng tiền. Gần như tất cả động vật gặm nhấm đều ăn thực vật, đặc biệt là hạt, mặc dù có một số ngoại lệ như ăn côn trùng hoặc cá. Một số loài sóc thậm chí ăn các loài chim thuộc bộ Sẻ như chim hồng y giáo chủ và giẻ cùi lam.

Động vật gặm nhấm đóng vai trò quan trọng trong nhiều hệ sinh thái vì tốc độ sinh sản nhanh và vai trò như nguồn thực phẩm cho động vật ăn thịt, cơ chế phát tán hạt và sinh vật truyền bệnh. Con người sử dụng động vật gặm nhấm để lấy lông thú, nuôi nhốt, làm sinh vật mô hình trong thử nghiệm động vật, là nguồn thực phẩm và thậm chí trong công tác dò tìm mìn.
Các thành viên của những nhóm động vật không phải gặm nhấm như Chiroptera (dơi), Scandentia (chuột chù cây), Insectivora (chuột chũi, chuột chù và nhím gai), Lagomorpha (thỏ, thỏ tai to và thỏ đá) cũng như những động vật ăn thịt như chồn và vizon đôi khi bị nhầm lẫn là động vật gặm nhấm.
Sự tiến hóa

Các mẫu hóa thạch của động vật có vú tương tự như động vật gặm nhấm xuất hiện rất nhanh sau khi khủng long tuyệt chủng, khoảng 65 triệu năm trước (Ma), vào thời kỳ Paleocen. Tuy nhiên, một số dữ liệu phân tử lại cho thấy các động vật gặm nhấm hiện đại (thành viên của bộ Rodentia) đã xuất hiện vào cuối kỷ Phấn Trắng, mặc dù các ước tính phân nhánh phân tử khác lại phù hợp với các mẫu hóa thạch. Vào cuối thế Eocen, các họ hàng của hải ly, chuột sóc, sóc và các nhóm khác đã xuất hiện trong các mẫu hóa thạch. Chúng bắt đầu từ Laurasia, một lục địa trước đây là sự kết nối của Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á. Một số loài đã lan rộng sang châu Phi, gây ra sự hiện diện sớm nhất của các loài nhím lông (Hystricognathi). Tuy nhiên, một số nhỏ các nhà khoa học tin rằng dữ liệu từ DNA hạt ti thể cho thấy rằng Hystricognathi có thể thuộc về một nhánh tiến hóa khác và vì thế nằm trong một bộ khác. Từ đó, nhóm Hystricognathi đã mở rộng sang Nam Mỹ, một lục địa được cô lập trong thế Oligocen và thế Miocen. Vào thời kỳ Miocen, châu Phi đã tiếp xúc với châu Á, cho phép các động vật gặm nhấm như nhím lông phổ biến trên lục địa Á-Âu.
Trong thế Pliocen, các hóa thạch đã được phát hiện tại Úc. Mặc dù thú có túi (Marsupialia) là nhóm thú nổi bật tại Australia, nhưng động vật gặm nhấm chiếm tới gần 25% lớp Thú của châu lục này. Nhiều loài gặm nhấm thuộc phân họ Murinae là những loài thú phổ biến tại lục địa này, với khoảng 50 loài 'đặc hữu cũ' và nhiều loài chuột (Rattus) trong đó có 8 loài mới và 2 loài được du nhập từ châu Âu. Trong thời kỳ đó, Nam Mỹ và Bắc Mỹ được nối liền và một số động vật gặm nhấm đã chiếm lĩnh các lãnh thổ mới; các loài chuột di chuyển xuống phía nam trong khi các loài nhím lông di chuyển lên phía bắc.
- Một số động vật gặm nhấm tiền sử
- Castoroides, hải ly khổng lồ, nặng hơn 100 kg (220 lb), sống trong thế Pleistocene
- Ceratogaulus, động vật gặm nhấm có sừng và đào hang, từ Miocene muộn đến Pleistocene
- Spelaeomys, chuột có kích thước lớn trên đảo Flores, tuyệt chủng năm 1500
- Heptaxodontidae, một nhóm động vật gặm nhấm đã từng sống ở Tây Ấn, nặng hơn 200 kg (440 lb), trong thế Pleistocene
- Ischyromys, động vật gặm nhấm tương tự như sóc nguyên thủy
- Leithia, chuột sóc khổng lồ, nặng 113 kg (249 lb), trong thế Pleistocene
- Neochoerus pinckneyi, lợn nước khổng lồ ở Bắc Mỹ, cân nặng lên đến 100 kg (220 lb), trong thế Pleistocene
- Josephoartigasia monesi, động vật gặm nhấm lớn nhất đã biết đến, nặng 1.500 kg (3.300 lb), sống từ thế Pliocene đến Pleistocene sớm.
- Phoberomys pattersoni, động vật gặm nhấm lớn thứ hai đã biết, dưới 280 kg (620 lb); ước tính trước đây lên tới 700 kg (1.500 lb), sống trong thế Miocene
- Telicomys, động vật gặm nhấm lớn ở Nam Mỹ, có kích thước khoảng 70% so với P. pattersoni, sống từ Miocene muộn đến thế Pleistocene sớm
Phân loại

Phân loại chuẩn
Động vật gặm nhấm là một phần của các nhánh: Glires (bao gồm cả thỏ (Lagomorpha)), Euarchontoglires (bao gồm cả thỏ (Lagomorpha), linh trưởng (Primates), chuột chù cây, colugo), và Boreoeutheria (bao gồm phần lớn các động vật có nhau thai (Eutheria) khác). Phát sinh loài của bộ Rodentia như sau.
| Boreoeutheria |
| ||||||||||||||||||
Bộ Rodentia có thể chia thành các phân bộ, cận bộ, siêu họ và họ. Nhánh này đã xuất phát từ các tổ tiên chung trong Paleocene, đã được chấp nhận rộng rãi và nghiên cứu phân tử đã xác nhận đây là một nhóm đơn ngành. Phân loại hiện tại chia bộ này thành 5 phân bộ, 33 họ, 481 chi và 2277 loài:
BỘ RODENTIA (từ tiếng Latinh, rodere: gặm nhấm)
- Phân bộ Anomaluromorpha
- Họ Anomaluridae: sóc bay đuôi vảy
- Họ Pedetidae: thỏ nhảy (khiêu thỏ)
- Phân bộ Castorimorpha
- Siêu họ Castoroidea
- Họ Castoridae: hải ly
- Siêu họ Geomyoidea
- Họ Geomyidae: chuột nang (chuột túi má thật sự)
- Họ Heteromyidae: chuột kangaroo và chuột nhắt kangaroo
- Siêu họ Castoroidea
- Phân bộ Hystricomorpha
- Họ Diatomyidae: chuột núi Lào (vị trí không chắc chắn (incertae sedis), có thể thuộc phân bộ Sciuromorpha)
- Cận bộ Ctenodactylomorphi
- Họ Ctenodactylidae: gundi
- Cận bộ Hystricognathi
- Họ Bathyergidae: chuột chũi châu Phi
- Họ Hystricidae: nhím lông Cựu thế giới. Không nhầm với nhím gai (họ Erinaceinae).
- Họ Petromuridae: chuột đa man (đề thỏ)
- Họ Thryonomyidae: chuột mía
- Tiểu bộ Caviomorpha
- Họ Heptaxodontidae †: hutia khổng lồ
- Họ Abrocomidae: chuột sinsin
- Họ Capromyidae: hutia
- Họ Caviidae: chuột lang và lợn nước
- Họ Chinchillidae: sóc sinsin (chuột lông tơ) và viscacha
- Họ Ctenomyidae: tuco-tuco
- Họ Cuniculidae: paca
- Họ Dasyproctidae: agouti và acouchi
- Họ Dinomyidae: pacarana
- Họ Echimyidae: chuột gai
- Họ Erethizontidae: nhím lông Tân thế giới. Không nhầm với nhím gai (họ Erinaceinae).
- Họ Myocastoridae: nutria
- Họ Octodontidae: chuột đá Nam Mỹ, degu
- Phân bộ Myomorpha
- Siêu họ Dipodoidea
- Họ Dipodidae: chuột nhảy (jerboa) và chuột nhắt nhảy
- Siêu họ Muroidea
- Họ Calomyscidae: chuột giống như chuột đất vàng
- Họ Cricetidae: hamster (chuột đất vàng), chuột nhắt và chuột cống, chuột đồng Tân thế giới
- Họ Muridae: chuột nhắt và chuột cống, chuột nhảy (gerbil), chuột gai, chuột bờm
- Họ Nesomyidae: chuột leo, chuột đá, chuột đuôi trắng, chuột Malagasy
- Họ Platacanthomyidae: chuột sóc gai
- Họ Spalacidae: dúi (trúc thử), chuột chũi mù (yển thử, không nhầm với chuột chũi/yển thuộc họ Talpidae của bộ Chuột chù (Soricomorpha).), chuột lỗ (phẫn thử)
- Siêu họ Dipodoidea
- Phân bộ Sciuromorpha
- Họ Aplodontiidae: hải ly núi
- Họ Gliridae (hay Myoxidae, Muscardinidae): chuột sóc
- Họ Sciuridae: sóc, bao gồm cả sóc chuột, chuột chó thảo nguyên, & macmot
Phân loại kiểu khác
Phân loại trên dựa vào hình dáng của hàm (nhóm Sciurognathi hay Hystricognathi) làm đặc điểm chính. Đây là phương pháp phổ biến nhất để chia bộ này thành các phân bộ. Nhiều nguồn tham khảo cũ nhấn mạnh vai trò của hệ xương gò má và cơ cắn (các phân bộ Protrogomorpha, Sciuromorpha, Hystricomorpha, Myomorpha).
Một số nghiên cứu phân tử mới sử dụng chuỗi gen để xác định mối quan hệ giữa các nhánh trong động vật gặm nhấm, nhưng vẫn chưa có hệ thống phân loại duy nhất và được hỗ trợ mạnh mẽ. Một số nhánh ổn định bao gồm:
- Ctenohystrica bao gồm:
- Ctenodactylidae (gundi)
- Hystricognathi bao gồm:
- Hystricidae
- Nhánh chưa đặt tên bao gồm:
- Phiomorpha
- Caviomorpha
- Nhánh chưa đặt tên bao gồm:
- Gliridae
- Sciuroidea bao gồm:
- Aplodontiidae
- Sciuridae
- Myodonta bao gồm:
- Dipodoidea
- Muroidea
Vị trí của Castoridae, Geomyoidea, Anomaluridae, Pedetidae vẫn còn tranh cãi.
Đơn hay đa ngành?
Năm 1991, một bài báo trên tạp chí Nature đề xuất rằng nhóm Caviomorpha nên được xem là một bộ riêng (tương tự như Lagomorpha), dựa trên phân tích chuỗi amino acid của chuột lang. Giả thuyết này được làm rõ hơn trong bài báo năm 1992, xác nhận khả năng Caviomorpha có thể đã rẽ nhánh từ Myomorpha trước khi Myomorpha chia ra sau này; điều này ngụ ý rằng Caviomorpha, có thể là cả Hystricomorpha, nên được tách ra thành một bộ riêng. Một số ý kiến thiểu số trong khoa học trong một thời gian ngắn cho rằng chuột lang, degu và các loài khác trong Caviomorpha không phải là động vật gặm nhấm, trong khi một số bài báo khác lại ủng hộ tính đơn ngành của động vật gặm nhấm. Các nghiên cứu sau này từ năm 2002, sử dụng mẫu vật và gen rộng hơn, đã khôi phục lại sự đồng thuận của các nhà sinh vật học rằng bộ Rodentia là đơn ngành.
Bảo tồn

Rhipidura fuliginosa cervina gần như tuyệt chủng sau khi chuột đen đến đảo vào năm 1918. Mặc dù các động vật gặm nhấm không bị đe dọa nghiêm trọng như những loài thú khác, có khoảng 168 loài trong 126 chi được xếp vào nhóm 'đáng được quan tâm bảo tồn' theo nghĩa được công nhận rộng rãi. Với 76% chi động vật gặm nhấm chỉ có một loài, nhiều phát sinh loài đa dạng có thể bị mất so với số lượng loài tuyệt chủng nhỏ có thể so sánh. Vì thiếu thông tin chi tiết về các loài có nguy cơ bị đe dọa và sự chính xác trong hệ thống phân loại, công việc bảo tồn phải dựa chủ yếu vào các cấp phân loại cao hơn (như cấp họ thay vì cấp loài) và các điểm nóng địa lý. Ví dụ, ở Colombia, loài nhím Sphiggurus vestitus chỉ được ghi nhận từ hai bản thể địa phương vào những năm 1920, trong khi loài chuột Santamartamys rufodorsalis chỉ biết đến từ vùng bờ biển Caribe, vì vậy các loài này được xếp vào nhóm dễ bị tổn thương. IUCN lưu ý rằng 'có nhiều loài gặm nhấm Nam Mỹ đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nghiêm trọng do sự phá hủy môi trường và săn bắn quá mức'.
Ba loài gặm nhấm gây hại (chuột nâu, chuột đen và chuột nhà) đã lan rộng trên toàn cầu theo con người, đặc biệt là qua các chuyến thám hiểm khám phá thế giới, và với loài thứ tư trong Thái Bình Dương là Rattus exulans đã gây hại nghiêm trọng cho các sinh vật đảo trên khắp thế giới. Ví dụ, khi chuột đen đến đảo Lord Howe vào năm 1918, hơn 40% loài chim đất liền của đảo đã tuyệt chủng trong vòng 10 năm. Các hình thức phá hủy tương tự đã xảy ra tại đảo Midway (1943) và đảo Big South Cape (1962). Các dự án bảo tồn với sự chuẩn bị kỹ lưỡng có thể hoàn toàn loại bỏ các loài gặm nhấm gây hại trên các đảo bằng cách sử dụng thuốc chống đông máu như brodifacoum. Phương pháp này đã thành công trên đảo Lundy ở Liên hiệp Anh, nơi khoảng 40,000 con chuột đã bị diệt trừ, tạo điều kiện thuận lợi cho quần thể Puffinus puffinus và Hải âu cổ rụt Đại Tây Dương phục hồi từ đỉnh điểm gần như tuyệt chủng.
Chú thích
- Adkins R. M. E. L. Gelke, D. Rowe, và R. L. Honeycutt. 2001. Phylogeny di truyền phân tử và ước tính thời gian chia tách cho các nhóm gặm nhấm chính: Bằng chứng từ nhiều gene. Tiến hóa Sinh học phân tử, 18:777-791.
- David Lambert và Nhóm Sơ đồ. Cẩm nang về Sinh vật tiền sử. New York: Facts on File Publications, 1985. ISBN 0-8160-1125-7
- Jahn G. C. 1998. 'Khi chim hót vào nửa đêm' Bản tin 6:10-11. [1] Lưu trữ 2007-06-10 tại Wayback Machine
- Leung LKP, Peter G. Cox, Gary C. Jahn và Robert Nugent. 2002. Đánh giá quản lý gặm nhấm với nông dân lúa ở Campuchia. Tạp chí Nông nghiệp Campuchia quyển 5, các trang 21-26.
- McKenna Malcolm C., và Bell Susan K. 1997. Phân loại động vật có vú trên cấp độ trên loài. Nhà in Đại học Columbia, New York, 631 trang. ISBN 0-231-11013-8
- Nowak R. M. 1999. Những loài động vật có vú trên thế giới, quyển 2. Nhà in Đại học Johns Hopkins, Luân Đôn.
- Steppan S. J., R. A. Adkins, và J. Anderson. 2004. Phylogeny và ước tính thời điểm chia tách nhanh trong gặm nhấm muroid dựa trên nhiều gene hạt nhân. Sinh học Hệ thống, 53:533-553.
- Viện bảo tàng cổ sinh vật học Đại học California (UCMP). 2007. 'Rodentia'
Liên kết
- Trang web về động vật gặm nhấm ở châu Phi
- Bộ Gặm nhấm tại Bách khoa toàn thư đời sống.
- Bộ Gặm nhấm tại Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI).
- Bộ Gặm nhấm tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
- Bộ Gặm nhấm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
- Rodent tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Các họ còn sinh tồn trong Bộ Gặm nhấmNhững bộ hữu nhũ còn tồn tại thuộc phân lớp bên dưới
Các danh sách động vật có vúTheo lớp - Lớp Thú
- thú biển
- thời tiền sử
- tuyệt chủng gần đây
- cực kỳ nguy cấp
- nguy cấp
- sắp nguy cấp
- sắp bị đe dọa
- ít quan tâm
- thiếu dữ liệu
Theo phân lớp,
phân thứ lớp- Monotremes and marsupials
- Placental mammals
Theo bộ - Afrosoricida
- Bộ Guốc chẵn
- Dơi
- Bộ Ăn thịt
- Thú có mai
- Bộ Dasyuromorphia
- Opossum
- Bộ Hai răng cửa
- Bộ Thỏ
- Chuột chù voi
- Peramelemorphia
- Bộ Guốc lẻ
- Thú thiếu răng
- Bộ Linh trưởng
- hóa thạch
- Bộ Gặm nhấm
- tuyệt chủng
- Bộ Nhiều răng
- Bộ Chuột chù
Theo phân bộ
hoặc họBộ Guốc chẵn - Họ Trâu bò
- Họ Hươu nai
- Phân thứ bộ Cá voi
- Phân bộ Lợn
Bộ Ăn thịt - Họ Chó
- Họ Mèo
- Họ Cầy lỏn
- Họ Chồn hôi
- Họ Chồn
- Động vật chân vây
- Họ Gấu mèo
- Họ Gấu
- Họ Cầy
Bộ Dơi - Họ Dơi quạ
- Họ Dơi lá mũi
Bộ Hai răng cửa - Phân bộ Chuột túi
- Phalangeriformes
Bộ Thỏ - Họ Thỏ
- Họ Thỏ cộc pika
Bộ Linh trưởng - Cercopithecidae (Khỉ Cựu Thế giới)
- Hominoidea (Liên họ Người)
- Vượn cáo (Lemuroidea)
- Liên họ Cu li
- Lorisoidea
- Platyrrhini
- Khỉ Tân Thế giới
- Tarsiiformes
- Tarsiiformes
Theo loài - Canis lupus (sói xám)
- Ursus arctos (gấu nâu)
Theo số lượng - Guốc chẵn
- Guốc lẻ
- Linh trưởng
Tiêu đề chuẩn - BNF: cb11977167j (data)
- GND: 4171111-7
- LCCN: sh85114803
- NARA: 10647853
- NDL: 00562425
- NKC: ph114676
Thẻ nhận dạng đơn vị phân loại - Wikidata: Q10850
- Wikispecies: Rodentia
- ADW: Rodentia
- AFD: Rodentia
- BOLD: 313
- EoL: 8677
- EPPO: 1RODEO
- Fauna Europaea: 12648
- Fossilworks: 41370
- GBIF: 1459
- iNaturalist: 43698
- IRMNG: 11808
- ITIS: 180130
- MSW: 12200001
- NBN: NHMSYS0000376181
- NCBI: 9989
- NZOR: bd4bb6ec-e755-4be9-a591-a99aa71a6934
- Plazi: C32887CB-FF95-BA66-FF3D-F9A1FA76EDD6
- WoRMS: 404079
