Bốn Cảnh Thiền là bốn cấp độ thiền mà Đức Phật truyền dạy, bao gồm Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Trong việc thực hành thiền, chúng ta phải đạt đến Bốn Cảnh Thiền. Để đạt được những đặc tính của Định, hành giả cần phải buông bỏ mọi sự bám víu, để tâm được tự do và rộng mở. Năm mức độ của Định là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và Diệt tận định hay Diệt thọ tưởng định. Thiền thường dễ giúp điều chỉnh tâm hơn là Định.
Các mức độ thiền này đều có thể vào và ra, nghĩa là để duy trì trạng thái thiền, ta cần phải dành thời gian luyện tập, không phải lúc nào cũng giữ được trạng thái đó. Khi muốn quay lại trạng thái bình thường, cũng cần phải có thời gian để thoát khỏi. Thường thì, khi không thực hành thiền, thiền giả sẽ giữ tâm tỉnh giác và yên lặng, nhưng không phải là các mức thiền này. Các mức thiền này chỉ thực hiện khi giữ tư thế tĩnh lặng. Tuy nhiên, có thể một thiền giả có thể đi lại trong khi vẫn duy trì trạng thái thiền sâu, điều này được xem là phát triển thần thông, vì thần thông là khả năng kết hợp định và hành động. Chúng ta cần hiểu rõ về Tứ Thiền trước khi so sánh với Tứ Thánh Quả. Những thông tin này dựa trên bài kinh Sa Môn Quả trong Trường Bộ Kinh.
Chánh niệm
'...Có những pháp, các Tỷ-kheo, làm nền tảng cho niệm giác chi. Nếu lý tác ý được làm cho trọn vẹn, đây là thức ăn giúp cho niệm giác chi chưa phát triển được bắt đầu hình thành; hoặc đối với niệm giác chi đã phát triển, giúp cho niệm giác chi được nuôi dưỡng và hoàn thiện...' - Siddhārtha Gautama
'Các Tỷ-kheo, khi sống xa lìa như vậy, với sự chú ý và nhận thức về pháp; trong lúc đó, niệm giác chi bắt đầu xuất hiện trong Tỷ-kheo đó. Khi Tỷ-kheo tiếp tục tu tập niệm giác chi, nhờ sự tu tập đó, niệm giác chi sẽ đạt đến sự hoàn thiện. Vị ấy sẽ an trú với chánh niệm, với trí tuệ và sự quán sát pháp...' - Siddhārtha Gautama
Để vào định, cần phải có sự tác ý chính xác, loại bỏ dần các suy nghĩ bất thiện. Sau một thời gian luyện tập Thiền, tâm sẽ trở nên ổn định hơn, giảm bớt suy nghĩ bất thiện và loại bỏ những vọng tưởng tự phát trong đầu.
Thiền là một lĩnh vực tâm linh, do đó cần sự nỗ lực và kiên trì cá nhân. Với quyết tâm cao và khả năng chịu đựng sự đau đớn, mỏi mệt, hành giả sẽ phát triển đức tính kiên nhẫn, ý chí mạnh mẽ, sức chịu đựng cao và trực giác sắc bén..v.v. và đồng thời thư giãn thân tâm.
Giai đoạn sơ thiền
Trích từ kinh Sa Môn Quả đoạn 75 Lưu trữ ngày 2017-10-12 tại Wayback Machine 'Tỷ-kheo rời bỏ dục vọng và các pháp ác, đạt và an trú trong thiền định thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do sự từ bỏ dục vọng tạo ra, với sự chú tâm và quán sát.'
Các cấp độ thiền chỉ dành cho những ai có quyết tâm cao và từ bỏ Ái Dục. Người tu hành cần chuẩn bị tâm lý sẵn sàng vì cần một môi trường yên tĩnh và cách ly với thế giới bên ngoài. Thời gian đạt đến từng cấp độ thiền có thể nhanh hay chậm tùy thuộc vào từng người, có thể mất vài ngày, vài tuần, vài chục năm, hoặc thậm chí cả kiếp sau. Nếu không lập nguyện trước Phật trong kiếp này, thì kiếp sau có thể quên hết và vẫn là phàm phu như trước.
Sơ thiền là giai đoạn nhập định đầu tiên, đòi hỏi phải đạt được Chánh niệm tỉnh giác (CNTG) và vượt qua Năm triền cái. Hành giả sẽ rơi vào một trạng thái thanh tịnh hơn, tự động, không cần phải duy trì như trong CNTG. Khi đạt được Chánh niệm, hành giả cảm thấy tâm mình đã thanh tịnh, nhưng vẫn cần giữ gìn nhẹ nhàng. Từ Sơ thiền trở đi, tâm sẽ tự động an trú trong định mà không cần giữ gìn nữa. Hành giả sẽ cảm nhận cơ thể chuyển từ trạng thái cứng sang mềm mại như khối nước nhờn, giống như xà bông.
Dù tâm hành giả rất vắng lặng, vẫn còn những ý niệm thầm lặng về công phu và thành tựu của mình. Những ý niệm này rất mờ nhạt, khiến hành giả tưởng rằng mình đã hoàn toàn thanh tịnh. Phật mô tả trạng thái này là ly dục sinh hỷ, còn tầm còn tứ (xóa bỏ Ái Dục, đạt được sự an vui, nhưng vẫn còn những tiềm ẩn).
Trong Sơ thiền, hành giả từ bỏ các ham muốn thế gian nhờ vào niềm vui nội tâm tràn đầy và thanh khiết, không còn cần giải trí vật chất bên ngoài. Toàn thân hành giả luôn ở trong trạng thái hạnh phúc nhẹ nhàng và đầy đặn. Nếu duy trì được trạng thái này sau khi chết, hành giả sẽ sinh vào cõi trời Sơ Thiền.
Ý niệm thầm kín về công phu và thành tựu tạo nên một cái nhìn về Phật Pháp và sự tự hào bí mật. Hành giả có thể dễ dàng giao tiếp trôi chảy và nắm bắt những lĩnh vực khó, trừu tượng, hay diễn thuyết lưu loát nếu có cơ hội. Tuy Sơ thiền rất vĩ đại, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với đạo đức.
Nhị thiền
Trích đoạn 77 của kinh Sa Môn Quả Lưu trữ 2017-10-12 trên Wayback Machine: 'Tỷ-kheo đã thoát khỏi tầm và tứ, đạt và duy trì thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc phát sinh từ định, không còn tầm và tứ, chỉ còn sự an tĩnh của tâm.'
Tam thiền
Trích đoạn 79 của kinh Sa Môn Quả Lưu trữ 2017-10-12 trên Wayback Machine: 'Thêm nữa, Đại vương ơi, khi Tỷ-kheo rời bỏ trạng thái hỷ lạc, duy trì sự tỉnh giác và niệm chánh, cảm nhận sự an lạc mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, đạt và duy trì thiền thứ ba.'
Được Phật ví như một bông sen vươn lên từ mặt nước, toàn thân được bao phủ trong nước, với tâm trạng là xả niệm lạc trú (loại bỏ ý niệm, luôn cảm nhận sự an lạc).
Niềm vui của Tam thiền nhẹ nhàng và sâu lắng, bao trùm toàn bộ như một bông sen chìm trong nước, ướt đẫm nhưng không bị ngấm, cũng vậy, niềm vui của Tam thiền tựa như một trạng thái bình an, tự tại vượt khỏi sự gò bó của cơ thể, như thể không gian xung quanh đều tràn ngập sự an vui. Lúc này, thân thể của hành giả giống như một khối không khí hân hoan và an lạc.
Khi nói đến xả niệm, tức là hành giả đã đạt đến Vô thức (theo nghiên cứu khoa học, Vô thức chiếm hơn 90% cuộc sống con người, trong khi ý thức chỉ chiếm một phần nhỏ). Việc kiểm soát được Vô thức có nghĩa là tâm trí đã đạt đến trạng thái ổn định thực sự, với các bản năng sinh tồn và hưởng thụ đều bị chế ngự.
Trong trạng thái thiền định này, hành giả không còn nhận thức được các yếu tố bên ngoài như cảnh vật và tiếng động, mà hoàn toàn hòa mình vào thế giới nội tâm thanh tịnh, sáng suốt và diệu kỳ của mình.
Tứ thiền
Trích đoạn 81 của kinh Sa Môn Quả Lưu trữ 2017-10-12 trên Wayback Machine: 'Tỷ-kheo, khi từ bỏ sự vui sướng và khổ đau, vượt qua mọi trạng thái hỷ và ưu đã cảm nhận, đạt và duy trì thiền thứ tư, không còn cảm giác khổ lạc, chỉ còn xả niệm thanh tịnh.'
- Thần thông
- Kinh Trường bộ Lưu trữ 2017-10-12 trên Wayback Machine
