
| Rastrelliger kanagurta | |
|---|---|
| Tình trạng bảo tồn | |
Chưa được đánh giá (IUCN 3.1) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Actinopterygii |
| Bộ (ordo) | Perciformes |
| Họ (familia) | Scombridae |
| Tông (tribus) | Scombrini |
| Chi (genus) | Rastrelliger |
| Loài (species) | R. kanagurta |
| Danh pháp hai phần | |
| Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1816) | |
Cá bạc má (danh pháp khoa học: Rastrelliger kanagurta) là một loài cá thuộc họ Cá thu ngừ, thường được gọi là cá thu Ấn Độ. Loài cá này phân bố chủ yếu ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, cũng như các vùng biển lân cận. Cá bạc má sống chủ yếu ở các vùng nước ấm áp gần bờ biển của đại dương Thái Bình Dương và Ấn Độ. Phạm vi phân bố của chúng kéo dài từ Biển Đỏ và Đông Phi ở phía tây đến Indonesia ở phía đông, và từ Trung Quốc và quần đảo Ryukyu ở phía bắc đến Úc, Melanesia và Samoa ở phía nam, đồng thời cũng đã được phát hiện ở Địa Trung Hải qua kênh đào Suez.
Đặc điểm sinh học
Cá bạc má có thân hình thuôn dài và hơi dẹt bên. Tại Việt Nam, cá bạc má có chiều dài từ 72 đến 280 mm, với chiều dài trung bình khoảng 209 mm. Ở các khu vực biển khác, kích thước cá cũng khác nhau, ví dụ như ở Vũng Tàu là từ 72 đến 295 mm, ở Côn Đảo từ 62 đến 260 mm, và ở Phan Thiết từ 135 đến 295 mm. Mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng của cá bạc má có dạng: W=0,084.L^2,23. Cá có vây đuôi mảnh và 2 đến 3 gờ da nổi mỗi bên. Hai vây lưng của cá không gắn liền nhau và có các vây phụ sau vây lưng thứ hai và vây hậu môn. Vây ngực nằm cao, cá bơi nhanh và khỏe, thích hợp với lối sống di cư xa.
Cá bạc má sống thành đàn lớn, khác với nhiều loài cá biển khác thường rải rác. Vào ban đêm, chúng di chuyển tạo thành những vệt sáng dưới nước. Hiện tượng di cư của cá bạc má diễn ra khá rõ rệt vào cả ngày lẫn đêm. Sản lượng cá thu được bằng lưới kéo đáy cao nhất vào lúc bình minh và giữa trưa, trong khi lưới kéo tầng cao nhất thu được vào khoảng từ 20 đến 24 giờ đêm.
Cá bạc má là loài ăn động vật phù du, sứa biển và các động vật nổi như giáp xác và cá con. Chúng chủ yếu ăn động vật phù du và một số loại thực vật phù du. Trong động vật phù du, Oncaea chiếm 39,8%, Copepoda 11,4%, và Megalopa larva 9,4%. Trong thực vật phù du, tảo khuê với 21 giống chiếm đến 89,7%, trong đó Coscinodiscus chiếm 22,9% và Nitzschia 11,2%. Cá cái có cường độ bắt mồi cao hơn cá đực, và cá chưa trưởng thành có khả năng bắt mồi tốt hơn cá trưởng thành.
Thức ăn chính của cá bạc má là phiêu sinh vật, ấu trùng và các loài tôm cá nhỏ. Khi kiếm ăn, chúng thường bơi theo đàn và há miệng rộng để lọc thức ăn qua mang. Hình ảnh cá bạc má há miệng trong nước bạc tương tự như loài cá ăn thịt 'piranha' ở Nam Mỹ. Khi trưởng thành, chúng thường sống gần các vịnh, hải cảng và bãi biển đông đúc, điều này có thể khiến du khách bơi biển cảm thấy bất ngờ khi thấy chúng di chuyển nhanh trong nước.
Cá bạc má phát triển rất nhanh trong năm đầu, đạt chiều dài trung bình 113 mm. Sau năm thứ hai, tốc độ tăng trưởng chậm lại. Mùa sinh sản kéo dài từ cuối mùa khô (tháng 3) đến cuối mùa mưa (tháng 12), với hai đỉnh sinh sản vào tháng 3 – 6 và tháng 9 – 10. Cá trưởng thành có chiều dài từ 140 mm đến 200 mm khi lần đầu sinh sản. Nhiệt độ nước biển lý tưởng cho sinh sản là từ 26 đến 17,5°C và độ mặn từ 30 đến 34 0/00.
Đánh bắt
Tại Việt Nam, cá bạc má là một trong những loài cá nổi nhỏ có sản lượng cao và được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường nội địa. Loài cá này không chỉ phục vụ nhu cầu của người dân ven biển mà còn cung cấp nguồn đạm động vật cho các vùng sâu, vùng xa và miền núi. Cá bạc má đánh bắt tại Việt Nam thuộc 4 nhóm tuổi, trong đó cá nhóm 2 tuổi chiếm 64,4%, nhóm 1 tuổi 19,7%, nhóm 3 tuổi 12,0%, và nhóm 4 tuổi 3,9%.
Sản lượng cá bạc má trong nghề lưới vây ở các vùng biển có sự biến động lớn qua từng năm. Ở tỉnh Bình Thuận (Đông Nam Bộ) và Nghệ An (Vịnh Bắc Bộ), cá bạc má chiếm tỷ lệ lần lượt là 12,4% và 9,3% trong tổng sản lượng đánh bắt. Sản lượng và năng suất đánh bắt của cá bạc má thay đổi đáng kể theo các tháng trong năm. Vùng biển Vịnh Bắc Bộ và Đông Nam Bộ thường đạt sản lượng cao vào mùa gió mùa Đông Bắc.
Sản lượng và năng suất
Tổng sản lượng khai thác cá bạc má từ nghề lưới vây là 4.842 tấn/năm tại Vịnh Bắc Bộ, 4.050 tấn/năm ở Trung Bộ và cao nhất là 6.560 tấn/năm ở Đông Nam Bộ. Sản lượng cá bạc má biến động theo mùa gió mùa, theo chu kỳ ngày-đêm và theo độ sâu. Chiều dài cá thích hợp nhất ở ba vùng biển nghiên cứu là trên 2 tuổi, dao động từ 200 – 220 mm. Ở Trung Bộ, để đạt sản lượng bền vững và hiệu quả kinh tế cao, không nên vượt quá cường lực hiện tại. Tại Đông Nam Bộ, cần giảm cường lực khai thác khoảng 10% so với hiện tại. Trong khi đó, tại Vịnh Bắc Bộ, có thể tăng cường khai thác nhưng sản lượng tăng không đáng kể.

- Tại Vịnh Bắc Bộ, năng suất đánh bắt và sản lượng khai thác cá bạc má rất cao và thay đổi lớn theo từng tháng. Các tháng đạt sản lượng cao là tháng 1, 2, 3, 9, 10, 11 và 12.
- Tại Trung Bộ, năng suất đánh bắt và sản lượng khai thác cá bạc má cũng biến động lớn theo tháng, tương tự như Vịnh Bắc Bộ. Mùa vụ đánh bắt không thay đổi nhiều theo từng năm và phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, dẫn đến một số tháng không có sản lượng.
- Tại Đông Nam Bộ, năng suất và sản lượng cá bạc má biến động mạnh theo thời gian, với các tháng 1, 2, 3, 10, 11 và 12 có sản lượng và năng suất cao hơn các tháng khác.
Sản lượng cá bạc má từ nghề lưới vây ở các vùng biển nghiên cứu có sự biến động lớn qua các năm, với xu hướng giảm dần. Tại Vịnh Bắc Bộ, sản lượng ước tính là 4.190 tấn năm 2003, 6.633 tấn năm 2004 và giảm xuống 3.703 tấn năm 2005, trung bình khoảng 4.842 tấn. Ở miền Trung, sản lượng ước tính năm 2003 là 2.904 tấn, năm 2004 là 5.428 tấn và năm 2005 là 3.818 tấn, trung bình 4.050 tấn. Tại Đông Nam Bộ, sản lượng cao nhất là 11.511 tấn năm 2003, giảm xuống 3.769 tấn năm 2005, trung bình đạt 6.560 tấn.
Phân bố sản lượng
Theo độ sâu: Mật độ cá bạc má tăng từ độ sâu 20 m đến 50 m, với năng suất đánh bắt tăng từ 0,27 kg/giờ lên 0,83 kg/giờ. Tần suất xuất hiện của cá trong phạm vi này cũng cao hơn so với các độ sâu khác. Tại các độ sâu lớn hơn 100 m, rất ít cá bạc má được bắt bằng lưới kéo đáy. Dải độ sâu hiệu quả nhất cho lưới kéo đáy là từ 30 – 50 m.
Theo thời gian trong ngày: Cá bạc má di cư theo chu kỳ ngày-đêm, với sự biến động sản lượng trong các mẻ lưới kéo đáy và tín hiệu máy thủy âm cho thấy chúng di chuyển từ tầng nước sâu vào ban ngày lên các tầng nước trên vào ban đêm.
Theo mùa gió mùa: Trong mùa gió Đông Bắc, sản lượng cá bạc má cao tập trung ở Vịnh Bắc Bộ và Tây Nam Bộ. Tại Vịnh Bắc Bộ, do thời tiết lạnh, cá tập trung ở giữa vịnh, độ sâu trên 50 m và di chuyển từ Bắc vào Nam. Trong mùa gió Tây Nam, vào tháng 4, cá phân bố rộng hơn, di chuyển từ Nam lên Bắc và vào gần bờ để đẻ, trái ngược với mùa gió Đông Bắc.
Trữ lượng

Tại Vịnh Bắc Bộ, trữ lượng cá bạc má ước tính là 6.270 tấn, với khả năng khai thác bền vững tối đa (MSY) là 4.521 tấn. Ở vùng biển Trung Bộ, trữ lượng đạt 6.536 tấn, với MSY là 5.378 tấn. Trong khi đó, ở Đông Nam Bộ, trữ lượng là 6.861 tấn và MSY đạt 5.475 tấn.
Vùng biển Vịnh Bắc Bộ: Trữ lượng cá bạc má ở Vịnh Bắc Bộ được phân tích cho các nhóm chiều dài từ 185 – 295 mm thành 22 nhóm, mỗi nhóm cách nhau 5 mm. Các nhóm từ 220 – 270 mm chiếm ưu thế. Tổng trữ lượng cá bạc má là 6.270 tấn, tương đương khoảng 58 triệu con, với khả năng khai thác bền vững tối đa (MSY) là 4.521 tấn.
Vùng biển Trung Bộ: Trữ lượng cá bạc má tại đây là 6.536 tấn, tương ứng với khoảng 132 triệu con, và khả năng khai thác bền vững tối đa (MSY) là 5.378 tấn. Trong số này, cá có chiều dài từ 100 – 180 mm, thuộc nhóm cá nhỏ chưa đạt độ trưởng thành, chiếm 1.222 tấn, tương đương 56,9% tổng số con đánh bắt được.
Vùng biển Đông Nam Bộ: Trữ lượng cá bạc má đạt 6.860 tấn, tương đương với 96 triệu con. Khả năng khai thác bền vững tối đa (MSY) được ước tính là 5.475 tấn. Trong đó, nhóm cá có chiều dài từ 195 – 235 mm là phổ biến nhất.
Các địa phương nổi bật
- Nghệ An: Sản lượng cá bạc má chiếm 9,3% trong tổng sản lượng, đứng sau cá Nục sồ (5,7%). Tỷ lệ này không thay đổi nhiều trong giai đoạn 2003 - 2005, với các con số lần lượt là 9,6% (2003), 9,0% (2004) và 9,3% (2005).
- Quảng Nam: Cá bạc má đứng thứ ba với tỷ lệ 4,9% trong tổng sản lượng. Tỷ lệ này có xu hướng giảm dần từ năm 2003 đến 2005, từ 5,6% (2003) xuống 4,7% (2005).
- Khánh Hoà: Cá bạc má chỉ chiếm 2,1% trong tổng sản lượng, thấp hơn so với các tỉnh khác và có sự biến động lớn qua các năm. Năm 2003, tỷ lệ này rất nhỏ, tăng lên 4,2% vào năm 2004 rồi giảm xuống 1,8% vào năm 2005.
- Bình Thuận: Cá bạc má chiếm 12,4% trong tổng sản lượng đánh bắt bằng lưới vây, đứng thứ ba sau cá nục sồ (34,8%) và cá nục thuôn (27,4%). Tỷ lệ này tăng dần từ 7,8% (2003) lên 17,6% (2005).
- Bến Tre: Cá bạc má chiếm 4,0% trong tổng sản lượng, đứng thứ ba sau cá nục sồ (32,8%) và cá nục thuôn (12,2%). Tỷ lệ sản lượng của cá bạc má biến động không lớn, từ 3,6% (2003) đến 5,5% (2005).
Hình ảnh





Chú thích
- Thông tin về Rastrelliger kanagurta trên Wikispecies
- Tài liệu về Rastrelliger kanagurta trên Wikimedia Commons
