
| Cá dĩa | |
|---|---|
Cá dĩa | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Nhánh | Craniata |
| Phân ngành (subphylum) | Vertebrata |
| Phân thứ ngành (infraphylum) | Gnathostomata |
| Liên lớp (superclass) | Osteichthyes |
| Lớp (class) | Actinopterygii |
| Phân lớp (subclass) | Neopterygii |
| Phân thứ lớp (infraclass) | Teleostei |
| Liên bộ (superordo) | Acanthopterygii |
| Bộ (ordo) | Perciformes |
| Phân bộ (subordo) | Labroidei |
| Họ (familia) | Cichlidae |
| Phân họ (subfamilia) | Cichlasomatinae |
| Chi (genus) | Symphysodon Heckel, 1840 |
| Loài | |
Symphysodon aequifasciatus | |
Cá đĩa (tên khoa học: Symphysodon, tên tiếng Anh là discus, thuộc họ Cá rô phi Cichlidae). Người Hoa gọi cá đĩa là 'Ngũ Sắc Thần Tiên' và coi nó là 'Nhất Đại Mỹ Ngư', tức là loài cá đẹp nhất trong số các cá cảnh.
Đặc điểm

Cá đĩa có nguồn gốc từ các nhánh sông nhỏ của sông Amazon (Nam Mỹ). Cá trưởng thành có kích thước từ 15 đến 20 cm, thân hình tròn như đĩa, rất mỏng, miệng và mang nhỏ, sống hòa đồng theo bầy đàn trong tự nhiên. Thân cá đĩa mịn màng. Có hai loại chính của cá đĩa là cá đĩa hoang dã và cá đĩa thuần chủng.
Cá đĩa hoang bao gồm bốn loại chính: Heckle, cá đĩa nâu (brown discus), cá đĩa xanh dương (blue discus) và cá đĩa xanh lá (green discus). Các loại còn lại trong nhóm cá đĩa thường do các nghệ nhân lai tạo. Các giống cá lai phổ biến là cá đĩa bông xanh (turquoise), và giống mới nhất là cá bạch tạng (snow white hoặc albino white). Hiện nay, cá đĩa được nuôi với nhiều giống đa dạng như cá đĩa bông xanh, cá đĩa lam, cá đĩa da rắn, cá đĩa bồ câu, cá đĩa đỏ, cá đĩa trắng và cá đĩa albino (trước đây gọi là 'Amino', nhưng từ này không có ý nghĩa đúng, do lỗi đọc và biến tướng từ các người buôn bán; 'albino' chỉ các cá thể bạch tạng với đột biến giảm melanin, tạo màu da sáng hơn và mắt hồng, đỏ, đỏ sẫm).
Thức ăn của cá đĩa trong môi trường nuôi là trùn đỏ, trùn chỉ, bo bo, lăng quăng hoặc tim gan bò xay nhuyễn. Cá đĩa không kén ăn nhưng khá khó nuôi vì chúng chỉ phát triển tốt trong nước sạch. Để nuôi cá đĩa khỏe mạnh, người ta phải chú ý đến việc thiết kế bể nuôi sao cho đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước.
Điều kiện môi trường sống của cá đĩa:
- Nhiệt độ: Thích hợp từ 28 đến 30°C
- Độ pH: Cá con và cá trưởng thành: 6,5 – 7,0; Cá sinh sản: 6,2 – 6,5.
- Độ cứng của nước (dH): Cá con: 6 - 8 dH; Cá sinh sản: 4 – 6 dH (1 dH = 17,9 mg CaCO3/l)
Sinh sản
Việc cá đĩa sinh sản trong môi trường nhân tạo khá khó khăn. Cá bố mẹ rất chăm sóc trứng nhưng cũng có thể ăn trứng nếu cảm thấy môi trường xung quanh có nguy hiểm hoặc nhiều người qua lại. Cá bột rất yếu và thường bị hao hụt nhiều. Mặc dù mỗi lứa cá đĩa có thể đẻ từ 200 đến 400 trứng, nhưng khi cá bột đạt kích thước khoảng 2 cm, số lượng còn lại thường chỉ từ 30 đến 40 con, điều này được coi là bình thường đối với một lứa cá đĩa.
Cho cá phối cặp

Cá đĩa trưởng thành có xu hướng tự tìm bạn đời. Chúng có màu sắc rực rỡ và khi bắt cặp thường tách riêng ra khỏi đàn, trở nên hung dữ và có thể cắn những con cá khác lại gần. Cặp cá sẽ chọn một góc của bể để làm sạch khu vực sinh sản. Sau đó, chúng bơi cùng nhau và quấn quýt. Vài ngày trước khi đẻ, cá có hiện tượng rung người, thu vây lại, đôi khi đứng yên và ít ăn. Lúc này, gai sinh dục dài ra, có thể phân biệt được cá đực và cá cái. Cá bố mẹ sẽ được chuyển vào bể đẻ đã chuẩn bị sẵn nước. Nếu cặp cá trưởng thành tốt, chúng sẽ đẻ trứng trong khoảng 2 – 3 ngày.
Giai đoạn phối cặp kéo dài từ 7 đến 10 ngày. Khi đẻ, cá thường nghiêng đầu xuống khoảng 45 độ và đẻ trứng dọc theo giá thể, từ dưới lên. Cá đực cũng tiết tinh trùng theo hướng này để thụ tinh cho trứng. Những cặp cá phối tốt sẽ đẻ trứng tập trung thành cụm với kích thước khoảng 2 x 4 cm và số lượng trứng từ 50 đến 300 trứng.
Phân biệt giới tính
Cá đực thường lớn hơn, có đầu hơi gù, vây bụng xệ, và vùng dưới bụng gần vây lõm vào rất rõ rệt. Chúng cũng hoạt động hung hăng hơn cá cái.
Cá cái thường nhỏ hơn, gai sinh dục lồi ra ngắn khoảng 3mm, chia thành hai thùy nhọn và hơi cong về phía sau.
Quá trình sinh sản
Trứng được thụ tinh có màu trong suốt, trong khi trứng không thụ tinh sẽ chuyển sang màu trắng đục và bị mốc. Sau 36-48 giờ, trứng thụ tinh sẽ chuyển thành màu đen. Những trứng không được thụ tinh sẽ chuyển sang màu trắng trong vòng 24 giờ. Ở nhiệt độ 30°C, trứng sẽ nở trong khoảng 60-72 giờ. Trong thời gian này, cá bố và cá mẹ thay phiên nhau quạt nước để trứng có đủ oxy. Tỉ lệ nở của trứng đạt 60-80% ở 28°C, và giảm xuống 20-50% khi nhiệt độ vượt 30°C. Với lứa đẻ đầu tiên, có thể đến 90% trứng không nở và bị ăn hết bởi cá cha mẹ vì kỹ năng sinh sản của cá chưa thành thạo; cần chờ lứa sau.
Chăm sóc cá bột
Khi cá bột mới nở, chúng sống nhờ túi noãn và bám vào giá đẻ, sử dụng năng lượng từ túi noãn để tồn tại. Nếu cá bột rơi xuống, cá bố mẹ sẽ dùng miệng ngậm và đặt chúng lại chỗ cũ.
Sau 60 giờ, cá bột có thể bơi thành đàn quanh cá bố mẹ và sống nhờ ăn chất nhờn tiết ra từ cơ thể cá bố mẹ trong khoảng 12-15 ngày. Sau thời gian này, cá bột bắt đầu ăn các sinh vật nhỏ trong nước. Khoảng 18 ngày sau, cá bột có thể gọi là cá con và ăn được thức ăn nhân tạo. Sau 21 ngày, chúng có thể tự tìm thức ăn.
Phân loại
Cá đĩa có nhiều loài khác nhau, nhưng những loài thường gặp và phổ biến trong tự nhiên bao gồm:
- Symphysodon aequifasciatus - cá đĩa thường, với các giống:
- Symphysodon aequifasciatus haraldi, Schultz 1960 - cá đĩa xanh lam
- Symphysodon aequifasciatus axelrodi, Schultz 1960 - cá đĩa nâu
- Symphysodon aequifasciatus aequifasciatus, Pellegrin 1904 - cá đĩa xanh lục
- Symphysodon tarzoo - cá đĩa bông xanh
- Symphysodon discus - cá đĩa đỏ hay cá đĩa Heckel
- Cá la hán
- Cá chép Koi
Liên kết tham khảo
- Ranier Froese và Daniel Pauly (biên tập). Danh sách các loài thuộc Symphysodon trên FishBase. Phiên bản tháng 8 năm 2021.
