
| Cá thanh ngọc | |
|---|---|
Trichopsis pumila | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Nhánh | Craniata |
| Phân ngành (subphylum) | Vertebrata |
| Phân thứ ngành (infraphylum) | Gnathostomata |
| Liên lớp (superclass) | Osteichthyes |
| Lớp (class) | Neopterygii |
| Phân thứ lớp (infraclass) | Teleostei |
| Bộ (ordo) | Anabantiformes |
| Phân bộ (subordo) | Anabantoidei |
| Họ (familia) | Osphronemidae |
| Phân họ (subfamilia) | Macropodusinae |
| Chi (genus) | Trichopsis Canestrini, 1860 |
Cá thanh ngọc, còn được gọi là cá bãi trầu hoặc cá bảy trầu (Danh pháp khoa học: Trichopsis), là một chi cá thuộc họ Cá sặc, sinh sống chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, từ Myanmar, Thái Lan đến Việt Nam và bán đảo Mã Lai. Các ghi chép về loài này trên các đảo như Sumatra, Borneo và Java ở Indonesia có thể thuộc về loài khác. Loài này cũng đã được phân phối đến nhiều quốc gia khác qua thương mại cá cảnh.
Phân loại
- Trichopsis pumila: Cá thanh ngọc lùn
- Trichopsis vittata: Cá thanh ngọc chấm
- Trichopsis schalleri
Đặc điểm
Cá thanh ngọc chấm có chiều dài khoảng 4 – 7 cm. Vây hậu môn có từ 6-8 gai và 24-28 tia mềm phân nhánh; cơ thể có 13 hàng vảy nằm ngang và các sọc sẫm màu dọc theo thân. Vây hậu môn có tia vây mềm dài giống như sợi chỉ, mở rộng về phía sau gần chóp vây đuôi; có vết đen phía trên gốc ngực. Cá có mõm nhọn và thân dẹt.
Hành vi
Khi nuôi cá thanh ngọc chung với các cá thể khác, chúng thường khá nhút nhát, dễ bị hoảng loạn và ít tương tác. Tuy nhiên, nếu được nuôi riêng trong khoảng một tháng, chúng phát triển bản tính bảo vệ lãnh thổ. Khi đặt chung vào bể, chúng sẽ tỏ ra hung hăng, vờn nhau, thực hiện các động tác vòng quanh, phồng mang và quạt đuôi. Chúng có thể cắn nhau và phát ra âm thanh giống như tiếng ếch. Trong những cuộc chiến, cá có thể cắn nhau mạnh đến mức làm nước văng ra ngoài bể và đôi khi còn câu mỏ.
Trong mùa sinh sản, cá thanh ngọc phát ra tiếng kêu lớn khi quẫy nước. Vây ngực của chúng có khả năng phát ra âm thanh, dùng để giao tiếp giữa các cá thể. Trứng sẽ chìm xuống đáy và được cá bố mẹ thu gom, gắn vào tổ bọt.
Môi trường sống
Cá thanh ngọc sống ở đáy trong môi trường nước sâu, ít phèn, nước trong hoặc vùng nước ngọt nông với dòng chảy chậm (thường ít và nhỏ) hoặc trong các vùng nước tù có thảm thực vật thủy sinh dày đặc. Loài này phổ biến ở khu vực hạ lưu sông Salween, cũng như trung lưu và hạ lưu sông Mekong, dưới thác Khone. Nó cũng xuất hiện trong các khu vực đồng ruộng ngập nước ở trung lưu Mekong. Thức ăn của chúng chủ yếu là động vật phiêu sinh, động vật giáp xác và ấu trùng côn trùng.
Giá trị
Cá thanh ngọc chấm thường được nuôi làm cá cảnh. Mặc dù không phải là loài có giá trị thương mại cao, đôi khi nó được mua bán như một phần của các lô hàng đánh bắt hỗn hợp tại chợ. Loài cá này thường xuất hiện trong ngành buôn bán cá cảnh. Ngoài ra, cá thanh ngọc còn được dùng để giải trí bằng cách cho cá đực đấu nhau sau khi được cách ly để quan sát hành vi của chúng.
Chú thích
- Cá thanh ngọc trên Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
- Ladich F., W. Brtittenger và H. Kratochvil (1992). Significance Of Agonistic Vocalization In The Croaking Gourami.
- Shafland P. L. (1996). 'Exotic Fishes of Florida-1994'. Reviews in Fisheries Science 4(2).
- Sterba G. (1983). The Aquarium Fish Encyclopedia. The MIT Press.
