Đề bài: Cảm nhận 6 câu thơ đầu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
I. Dàn ý chi tiết
II. Bài viết mẫu
Cảm nhận 6 câu thơ đầu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
I. Dàn ý Cảm nhận 6 câu thơ đầu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
1. Mở bài
- Giới thiệu chung về đoạn trích 'Kiều ở lầu Ngưng Bích'.
- Dẫn dắt vào 6 câu đầu đoạn trích.
2. Thân bài
- Câu thơ đầu đã thể hiện hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều:
+ 'Khóa xuân': khóa kín tuổi xuân
+ Diễn tả tình cảnh đáng thương của Thúy Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích.
- Thiên nhiên rộng lớn, hoang vắng không một bóng người:
+ Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản 'non xa', 'trăng gần' mở ra không gian rộng lớn, rợn ngợp của thiên nhiên
+ Đảo ngữ 'bát ngát': rộng lớn, mênh mông
→ Con người trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên rộng lớn. Làm nổi bật tâm trạng cô đơn, lạc lõng.
+ 'xa trông': ánh mắt mong đợi, trông chờ
+ Từ trên lầu cao, trông ra xa chẳng thấy nổi một tin lành hay bóng người tâm giao, chỉ thấy những dãy núi mờ xa, mấy bụi hồng hắt hiu, đôi ba cồn cát vàng trên sông
=> Thiên nhiên càng rộng lớn, con người càng cô đơn. Kiều như chơ vơ, trơ trọi giữa không gian mênh mông, một màu hoang vắng đượm trên cảnh vật.
- Tâm trạng đau đớn, xót xa của Thúy Kiều:
+ Thành ngữ 'Mây sớm đèn khuya' : Thời gian tuần hoàn, lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa.
+ Tính từ 'bẽ bàng' diễn tả nỗi chán ngán, tủi hổ cho thân phận mình của nàng.
+ 'như chia tấm lòng': sự đồng điệu giữa cảnh vật của thiên nhiên và tâm trạng của con người.
→ Cảnh vật như hòa nhập làm một với con người mà mang nỗi u sầu, trống trải, cô đơn.
3. Kết bài
Khẳng định lại giá trị của 6 câu thơ đầu trích đoạn.
II. Bài văn mẫu Cảm nhận 6 câu thơ đầu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Chuẩn)
Đoạn trích 'Kiều ở lầu Ngưng Bích' trong 'Truyện Kiều' của Nguyễn Du là một trong những trích đoạn hay thể hiện rõ tâm trạng cô đơn, buồn tủi và nỗi nhớ thương của Kiều khi lâm vào nghịch cảnh. Trong trích đoạn, sáu câu đầu là bức tranh thiên nhiên mang màu tâm trạng của nhân vật.
'Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia'.
Hai từ 'Khóa xuân' diễn tả tình cảnh đáng thương của Thúy Kiều khi bị giam lỏng, chôn vùi tuổi xuân tại lầu Ngưng Bích.Tú Bà hứa hẹn với Kiều đủ điều mật ngọt để rồi giam lỏng nàng chốn không người. Còn gì đau đớn hơn khi đang độ sắc xuân, hương xuân, tuổi của những mộng mơ, căng tràn nhựa sống lại phải chịu cảnh giam mình, thiếu tự do. Ba câu thơ tiếp tác giả khắc họa một bức tranh thiên nhiên bát ngát, mênh mông nhưng hiu quạnh, không một bóng người. Các sự vật 'non', 'tấm trăng', 'cát vàng', 'bụi hồng',... kết hợp cùng các tính từ 'xa', 'gần', để diễn tả không gian rộng lớn mà hiu hắt của cảnh vật. Tất cả đều gợi lên nét hoang vắng, buồn bã của thiên nhiên. Biện pháp liệt kê kết hợp với phép đối lập tương phản được sử dụng tài tình đã thành công tái hiện khung cảnh thiên nhiên mênh mông, rợn ngợp nhưng buồn vắng, không một bóng người trước lầu Ngưng Bích.
Thiên nhiên càng rộng lớn, con người càng cô đơn. Kiều như chơ vơ, trơ trọi giữa không gian mênh mông, một màu hoang vắng đượm trên cảnh, một màu buồn thương nhuốm trên thân người. Từ trên lầu cao, trông ra xa chẳng thấy nổi một tin lành hay bóng người tâm giao, chỉ thấy những dãy núi mờ xa, mấy bụi hồng hắt hiu, đôi ba cồn cát vàng trên sông...Dường như, tất thảy mọi điều đều ngoài tầm với, xa vời với thực tại nghiệt ngã nàng đang chịu. Tìm đến mảnh trăng gần bầu bạn, nghĩ chăng Kiều có thể được vơi đi nỗi lòng. Nhưng rồi trăng nào có thấu! Là trăng không hiểu hay lòng người đa mang?
'Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng'.
Cảm thấy cô đơn và chán chường, Kiều sống trong sự cô đơn tột cùng, chỉ có đèn và mây làm bạn.
Kiều, một người con hiếu thảo, đáng ra phải sống trong hạnh phúc, nhưng số phận lại không may mắn với nàng.
Trích đoạn văn nói về cảnh Kiều sống ở lầu Ngưng Bích, nơi nàng phải đối mặt với sự cô đơn và trách nhiệm của mình.
Cùng với bài văn trên, các em cũng có thể đọc thêm các bài khác để hiểu sâu hơn về tác phẩm Kiều của Nguyễn Du.
