Cân bằng thương mại là một phần của tài khoản vãng lai trong hệ thống thanh toán quốc tế. Nó phản ánh sự thay đổi trong hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian cụ thể (như quý hoặc năm), cùng với sự chênh lệch giữa hai hoạt động này (xuất khẩu trừ nhập khẩu). Nếu chênh lệch dương, cán cân thương mại có thặng dư. Nếu chênh lệch âm, cán cân thương mại có thâm hụt. Nếu chênh lệch bằng 0, cán cân thương mại cân bằng.
Cân bằng thương mại cũng được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại là số dương. Khi có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại là số âm, được gọi là thâm hụt thương mại. Lưu ý rằng các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý thuyết thương mại quốc tế rộng hơn so với bảng cân đối thanh toán quốc tế, vì chúng bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ.
Các yếu tố tác động đến cân bằng thương mại
- Nhập khẩu: thường tăng khi GDP tăng và có thể tăng nhanh hơn GDP. Mức tăng của nhập khẩu khi GDP gia tăng phụ thuộc vào xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là phần gia tăng GDP mà người tiêu dùng chọn dùng cho hàng hóa nhập khẩu. Ví dụ, nếu MPZ là 0,2, thì với mỗi đồng GDP tăng thêm, người tiêu dùng có xu hướng chi 0,2 đồng cho nhập khẩu. Thêm vào đó, nhập khẩu còn chịu ảnh hưởng của giá hàng hóa trong nước so với giá hàng hóa quốc tế. Nếu giá hàng hóa trong nước tăng cao hơn so với quốc tế, nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại. Ví dụ, nếu giá xe đạp ở Việt Nam tăng so với xe đạp Nhật Bản, người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua nhiều xe đạp Nhật Bản hơn, dẫn đến tăng nhập khẩu xe đạp.
- Xuất khẩu: chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế của các quốc gia khác vì xuất khẩu của một quốc gia là nhập khẩu của quốc gia khác. Do đó, xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia đối tác. Vì vậy, trong các mô hình kinh tế, xuất khẩu thường được coi là yếu tố tự định.
- Tỷ giá hối đoái: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa trong nước và quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền tăng, giá hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm, trong khi giá hàng xuất khẩu sẽ tăng đối với người nước ngoài. Do đó, tỷ giá hối đoái cao làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu, dẫn đến xuất khẩu ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá giảm, xuất khẩu sẽ được lợi và nhập khẩu gặp bất lợi, xuất khẩu ròng sẽ tăng. Ví dụ, nếu tỷ giá là 3400 VND = 1 CNY, một bộ ấm chén Trung Quốc sẽ có giá 112.200 VND, rẻ hơn so với bộ ấm chén Việt Nam giá 115.000 VND. Nếu tỷ giá tăng lên 3600 VND = 1 CNY, giá bộ ấm chén Trung Quốc sẽ là 118.800 VND, kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm trong nước.
- Ảnh hưởng của dòng vốn CCTM: là yếu tố quan trọng trong tài sản quốc gia. CCTM phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa đầu tư và tiết kiệm trong nền kinh tế. Sự chênh lệch này được bù đắp bởi các dòng vốn đầu tư nước ngoài như FDI, ODA, FPI, kiều hối và các khoản vay thương mại khác.
- Ảnh hưởng của thu nhập: Khi thu nhập trong nước tăng, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cũng tăng theo. Đồng thời, khi nền kinh tế các nước khác tăng trưởng, họ cũng sẽ tăng cường nhập khẩu từ các quốc gia khác, dẫn đến xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu tăng. Do đó, CCTM phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế.
- Tỷ lệ trao đổi: phản ánh giá mà một quốc gia sẵn sàng trả cho hàng hóa nhập khẩu so với giá xuất khẩu của nước đó. Tỷ lệ này là tỷ số giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu. Do đó, tỷ lệ trao đổi ảnh hưởng đến CCTM.
- Phá giá tiền tệ: Là hành động giảm tỷ giá hối đoái theo chính sách của chính phủ. Phá giá làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu và giảm giá hàng xuất khẩu, dẫn đến thặng dư trong tài khoản vãng lai của CCTM.
- Các chính sách thương mại và phát triển kinh tế: Các chính sách thuế và bảo hộ hàng hóa trong nước ảnh hưởng mạnh đến CCTM. Những rào cản này hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng nhằm cải thiện CCTM. Các chính sách về phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu cũng ảnh hưởng lớn đến CCTM. Thêm vào đó, CCTM còn phụ thuộc vào cơ cấu nền kinh tế và chiến lược phát triển công nghiệp của quốc gia, cũng như các yếu tố khác như chính sách thương mại của chính phủ, thu nhập của người tiêu dùng trong nước và quốc tế, và các chu kỳ kinh tế toàn cầu.
Tác động của cán cân thương mại đối với GDP
Trong một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động chính: xuất khẩu ròng gia tăng tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu tư tư nhân và số nhân chi tiêu của chính phủ thay đổi do một phần chi tiêu bị 'rò rỉ' qua thương mại quốc tế.
Xuất khẩu ròng và cân bằng GDP

Bảng dưới đây mô tả một nền kinh tế bắt đầu như một nền kinh tế đóng, sau đó mở rộng bằng cách thêm xuất khẩu và nhập khẩu. Cột 1 thể hiện mức GDP ban đầu trong nền kinh tế đóng. Cột 2 phản ánh tổng cầu trong nước, bao gồm tiêu dùng (C), đầu tư (I) và chi tiêu của chính phủ (G). Cột 3 là xuất khẩu, giả định không thay đổi vì phụ thuộc vào kinh tế của các quốc gia đối tác. Cột 4 cho thấy nhập khẩu, giả định bằng 10% GDP. Cột 5 tính xuất khẩu ròng, là xuất khẩu trừ nhập khẩu, có giá trị dương nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và ngược lại. Cột 6 tổng hợp chi tiêu từ xuất khẩu ròng và cầu nội địa để tạo thành tổng cầu. Nền kinh tế mở đạt cân bằng khi tổng cầu bằng GDP, tức là đường tổng cầu cắt đường phân giác OO' (với GDP ban đầu là 35 tỷ USD). Tại điểm E trên đồ thị, tổng cầu là 35 tỷ USD, trong đó cầu nội địa là 31,5 tỷ USD và xuất khẩu ròng là 3,5 tỷ USD. Tại điểm xuất khẩu ròng bằng 0, tổng cầu nội địa và tổng chi tiêu đều bằng 63 tỷ USD. Phía trái điểm này, xuất khẩu ròng dương, tổng cầu nội địa thấp hơn tổng chi tiêu; phía phải, xuất khẩu ròng âm, tổng cầu nội địa cao hơn tổng chi tiêu.
| GDP ban đầu | Cầu trong nước (C+I+G) | Xuất khẩu (e) | Nhập khẩu (m) | Xuất khẩu ròng (X = e - m) | Tổng chi tiêu (C+I+G+X) | |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 75 | 67,5 | 7 | 7,5 | -0,5 | 67 | |
| 70 | 63 | 7 | 7 | 0 | 63 | |
| 65 | 58,5 | 7 | 6,5 | 0,5 | 59 | |
| 60 | 54 | 7 | 6 | 1 | 55 | |
| 55 | 49,5 | 7 | 5,5 | 1,5 | 51 | |
| 50 | 45 | 7 | 5 | 2 | 47 | |
| 45 | 40,5 | 7 | 4,5 | 2,5 | 43 | |
| 40 | 36 | 7 | 4 | 3 | 39 | |
| 35 | 31,5 | 7 | 3,5 | 3,5 | 35 | |
| 30 | 27 | 7 | 3 | 4 | 31 |
Số nhân trong nền kinh tế mở
Trên đồ thị, độ dốc của đường tổng chi tiêu C+I+G+X nhỏ hơn độ dốc của đường cầu nội địa C+G+I, do sự 'rò rỉ' qua nhập khẩu. Giả sử tỷ lệ tiêu dùng cận biên MPC là 0,75, khi GDP tăng 100 USD, chi tiêu tiêu dùng tăng 75 USD. Theo giả định, tỷ lệ nhập khẩu biên MPZ là 0,10 (nhập khẩu bằng 10% GDP), do đó chi tiêu cho nhập khẩu cũng tăng 10 USD. Kết quả là, chi tiêu cho hàng hóa sản xuất trong nước chỉ tăng 65 USD. Do đó, độ dốc của đường chi tiêu giảm từ 0,75 xuống 0,65. Sự 'rò rỉ' qua nhập khẩu ảnh hưởng mạnh đến số nhân. Trong nền kinh tế đóng, số nhân là 1/(1-MPC), còn trong nền kinh tế mở, số nhân là 1/(1-(MPC-MPZ)). Nếu MPC là 0,75, số nhân là 4; với ngoại thương, số nhân giảm xuống 2,857. Nếu tỷ lệ nhập khẩu biên là 0,75, số nhân sẽ bằng 1, tức là hiệu ứng số nhân bị triệt tiêu hoàn toàn bởi 'rò rỉ' qua nhập khẩu.
- Xuất khẩu
- Nhập khẩu
- Tài khoản vãng lai
- Nhập siêu
- Paul A. Samuelson; Nguyên lý Kinh tế học; Nhà xuất bản Tài chính, 2007
- David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch; Nguyên lý Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê, 2007
