Một nghiên cứu mới cho thấy, sau một thế kỷ, tác động của khai khoáng dưới đáy biển sâu vẫn còn đến 1/4.
Với nhu cầu kim loại như đồng, nickel, và cobalt, một số quốc gia đang khai thác các kết thạch polymetallic ở vùng Đại Tây Dương. Một nghiên cứu mới trên trang Science Advances đã chỉ ra tác động lâu dài của hoạt động này lên hệ sinh thái đáy biển.

Một miếng bọt biển dính trên kết thạch polymetallic
Năm 1989, các nhà khoa học đã thực hiện thí nghiệm DISCOL để đánh giá tác động của khai khoáng dưới đáy biển sâu. Họ đã cày xới lớp trầm tích rộng hơn 9 mét ở vùng đáy biển sâu hơn 4,1 km dưới bề mặt đại dương.
Nhóm nghiên cứu tại Viện Vi sinh vật biển Max-Planck ở Đức đã quay lại khu vực DISCOL để so sánh hoạt động vi sinh vật. Họ so sánh khu vực đã xáo trộn trong thí nghiệm với khu vực mới bị xáo trộn và khu vực chưa bị đào xới.
Bạn có biết đã xảy ra chuyện gì không?

Các rãnh cày trong thí nghiệm DISCOL vẫn rõ sau 26 năm
Đã 26 năm, các rãnh cày DISCOL vẫn rõ trong ảnh dưới biển. Sự suy giảm sinh học ở cả rãnh cày mới và cũ. Vi sinh vật mất nửa số ở rãnh mới, và ở DISCOL, giảm dưới 30%. Vi sinh vật ở các rãnh cày cần 50 năm để phục hồi.
Mặc dù có dấu hiệu hồi phục, nhưng số liệu cùng nghiên cứu khác cũng đáng lo ngại. Một nghiên cứu trên Nature cho thấy vi sinh vật ăn huyền phù giảm đáng kể ở khu vực DISCOL, và đa dạng sinh học giảm nhiều. Hoạt động khai khoáng có thể gây tổn thất không thể đảo ngược cho hệ sinh thái.
Tác động lên số vi khuẩn đáy biển rất quan trọng, là cơ sở của chuỗi thức ăn đáy biển. Nghiên cứu mới nhất nhấn mạnh vấn đề này.
'Nếu khai khoáng tiếp tục, nó sẽ diễn ra quy mô lớn hơn và mạnh mẽ hơn, hồi phục sẽ lâu hơn' – Diva Amon, sinh học biển tại Anh nói. Hồi phục cả mạng lưới sinh thái sẽ mất thời gian.
Hơn 50% sinh vật lớn dưới đáy biển phụ thuộc vào kết thạch để neo đậu, việc khai khoáng có thể ảnh hưởng lớn đến chúng.

Một kết thạch polymetallic
Daniel Jones, Phó Trưởng phòng của Nhóm sinh học và Hệ sinh thái Đại dương tại Trung tâm Hải dương học Quốc gia Anh, cho biết nghiên cứu DISCOL đã được tiến hành một cách sâu rộng và đứng sau nó là một nhóm các nhà khoa học đẳng cấp thế giới. Ông cảnh báo rằng khu vực nghiên cứu DISCOL khác với Khu vực Clarion-Clipperton (CCZ), nơi mà các hoạt động khai khoáng đáy biển diễn ra nhiều nhất – CCZ có nguồn thức ăn ít hơn so với lưu vực Peru.
'Quan trọng khi biết những phát hiện tại DISCOL so sánh ra sao với những phát hiện tại các khu vực chịu tác động trực tiếp bởi hoạt động khai khoáng' – ông nói. 'Hi vọng chúng ta sẽ không phải chờ đợi quá lâu, một loạt các dự án mới đã và đang được lên kế hoạch nhằm giải quyết thách thức tại CCZ'.
Dữ liệu cho thấy hoạt động khai khoáng đáy biển có thể gây tác động tiêu cực không thể đảo ngược được lên các hệ sinh thái mong manh ở đáy đại dương. Cơ quan Đáy biển quốc tế đang xem xét đưa ra quy chế quản lý hoạt động này, và sau đó các công ty khai khoáng có thể bắt đầu trích xuất khoáng chất mong muốn. Tuy nhiên, các nhà khoa học quan ngại rằng hoạt động khai khoáng có thể bắt đầu trước cả khi chúng ta thực sự biết rõ những tác động mà nó mang lại. Và nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những tác động này sẽ không mấy tốt đẹp!
Tham khảo: Gizmodo
