Năm 1971, ba nhà du hành vũ trụ người Nga đã phá kỷ lục về thời gian bay vào vũ trụ lâu nhất tại thời điểm đó, nhưng nhiệm vụ này đã kết thúc một cách bi thảm bởi một trục trặc trên đường trở về.
Khoảng nửa giờ trước khi tàu vũ trụ Soyuz của Liên Xô dự kiến hạ cánh vào ngày 30 tháng 6 năm 1971, tại vùng đồng bằng của Kazakhstan, trung tâm điều khiển chuyến bay đặt ở thành phố Yevpatoriya đã gặp phải sự cố im lặng bất ngờ.
Ba nhà du hành vũ trụ Liên Xô - Georgy Dobrovolsky, Vladislav Volkov và Viktor Patasayev - lúc này đang hạ cánh xuống Trái đất sau khoảng thời gian sống kỷ lục trên trạm vũ trụ Salyut 1, nơi họ thực hiện các thí nghiệm và khám phá nhiều điều chưa biết về cách cư trú của con người trong không gian.

Georgy Dobrovolsky (giữa), Viktor Patsayev (trái) và Vladislav Volkov (phải) trong cabin của tàu vũ trụ Soyuz.
Con tàu vũ trụ của họ, Soyuz 11, được phóng vào ngày 6 tháng 6 năm 1971. Vào thời điểm tàu Apollo 11 của Mỹ hạ cánh xuống mặt trăng hai năm trước đó, thời gian con người ở trong không gian lâu nhất chỉ khoảng hai tuần.
Còn phi hành đoàn Liên Xô này đã trải qua 23 ngày trong không gian, lập kỷ lục mới về sức chịu đựng của con người trong vũ trụ trước khi trở về nhà.
Khi tàu vũ trụ đang trở về, một nhân viên liên lạc đã bày tỏ lo ngại về việc thiếu báo cáo từ các phi hành gia.
'Chúng tôi đã yêu cầu phi hành gia Dobrovolskiy cung cấp thông tin khi tàu hạ cánh vào vùng phủ sóng, nhưng anh ấy không trả lời', người phụ trách liên lạc Aleksei Yeliseyev cho biết. 'Thật lạ là phi hành gia Volkov lại ít nói. Trong cuộc gặp trước đó, anh ấy nói rất nhiều.'
Mô-đun chở những người dũng cảm đã hạ cánh vào khoảng 2 giờ sáng, cách thị trấn Karazhal khoảng 90km về phía tây nam. Một đội cứu hộ ngay lập tức được cử đến.
Và thêm 20 phút im lặng khi trung tâm điều khiển không nhận được thêm báo cáo nào.
Cuối cùng, tin tức từ đội cứu hộ đã được truyền về. Ba phi hành gia được tìm thấy đã chết bên trong tàu vũ trụ.
Sau cuộc đua lên mặt trăng

Người Nga xem chương trình phát sóng (bị chậm vài ngày) về cuộc đổ bộ lên mặt trăng của tàu vũ trụ Mỹ Apollo 11 vào tháng 7 năm 1969.
Khi sự quan tâm của công chúng đối với việc khám phá vũ trụ giảm đi, nhiệm vụ Soyuz 11 bắt đầu.
Tàu Apollo 11 đã hạ cánh trên mặt trăng vào năm 1969, được coi là sự kiện kết thúc cuộc đua không gian giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều chưa được khám phá về không gian.
Các nhà khoa học vẫn hạn chế về tác động của không trọng lượng lâu dài đối với cơ thể con người. Thời gian lâu nhất mà con người đã ở trong không gian tính đến thời điểm đó chỉ là khoảng hai tuần.
'Liên Xô luôn quan tâm đến tác động lâu dài của con người trong không gian', Asif A. Siddiqi, giáo sư lịch sử của Đại học Fordham cho biết. 'Bạn cần hiểu cơ thể con người phản ứng như thế nào trước khi thực hiện các chuyến đi xa như đến sao Hỏa.'
Để bù đắp trong cuộc đua lên mặt trăng, Liên Xô tập trung vào chương trình trạm vũ trụ. Họ lắp ráp trạm vũ trụ Salyut 1 và phóng nó vào ngày 19 tháng 4 năm 1971.
Phi hành đoàn đầu tiên đến trạm vũ trụ này chỉ sau ba ngày sau khi Salyut 1 được phóng. Tuy nhiên, họ không thể cập bến và phải quay về Trái đất sau hai ngày.
Nỗ lực tiếp theo là Soyuz 11, diễn ra vào tháng 6 cùng năm.
Ban đầu, một nhóm ba phi hành gia khác đã được chỉ định để tham gia kế hoạch với Soyuz 11. Tuy nhiên, chỉ hai ngày trước khi phóng theo lịch trình, một vấn đề sức khỏe không lường trước đã khiến một thành viên của nhóm dự phòng phải thay thế.
Đội dự phòng bao gồm Dobrovolsky, chỉ huy, Volkov, kỹ sư bay và Patasayev, một kỹ sư nghiên cứu, sẽ thay thế đội chính. Nhóm ba người đầu tiên bị loại, đơn giản vì không thể thay thế thành viên trong nhóm ba phi hành gia một cách dễ dàng. Một phi hành đoàn cần phải trải qua quá trình huấn luyện lâu dài cùng nhau để có thể hoạt động một cách hiệu quả.
Một bước tiến mới cho loài người

Bên trong trạm vũ trụ Salyut 1, cửa ra dẫn đến tàu vũ trụ Soyuz 11.
Soyuz 11 được phóng vào ngày 6 tháng 6 năm 1971. Ba phi hành gia nhanh chóng đạt được một thành tựu quan trọng khi họ cập bến thành công trạm vũ trụ Salyut 1 vào ngày hôm sau.
Trạm vũ trụ Salyut 1, mặc dù nhỏ gọn, nhưng đã là nơi diễn ra nhiều nghiên cứu quan trọng. Phi hành đoàn đã thực hiện nhiều thí nghiệm y sinh học và thực hành trồng cây bên trong trạm.
Theo NASA, Patsayev là người đầu tiên sử dụng kính viễn vọng trong không gian. Phi hành đoàn cũng trở thành người đầu tiên tổ chức sinh nhật trong không gian và thậm chí bầu cử cho một cuộc bầu cử ở Liên Xô.
Các nhà khoa học cũng quan tâm đến tác động của không gian lên cơ thể con người. Một máy chạy bộ đã được cài đặt trên trạm vũ trụ Salyut 1 và các phi hành gia đã sử dụng bộ quần áo vũ trụ thay vì trang phục phi hành gia trong trạm vũ trụ và trên tàu Soyuz.
Mặc dù gặp phải một số vấn đề như đám cháy nhỏ trên tàu và xung đột về tính cách, nhưng phi hành đoàn vẫn phá vỡ kỷ lục 18 ngày ở không gian vào năm 1970. Tổng cộng, họ đã ở trạm vũ trụ trong khoảng 22 ngày.
Bi kịch bên trong Soyuz 11

Dobrovolsky, Volkov và Patsaev bên trong tàu Soyuz 11.
Hầu hết mọi thứ trên tàu vũ trụ Soyuz 11 đều hoạt động bình thường.
'Tàu vũ trụ Soyuz được tự động hóa nhiều nên bạn không cần phải làm nhiều', giáo sư Siddiqi nói. 'Chương trình đưa tàu Soyuz trở lại Trái đất vẫn tiếp tục hoạt động và hoạt động tốt.'
Mô-đun hạ cánh với ba người đã tự định hướng, và dù được triển khai vào sáng sớm ngày 30 tháng 6 năm 1971, con tàu đã hạ cánh mềm mại trên thảo nguyên Kazakhstan. Một báo cáo cũng cho biết các phi hành gia đều ở trong tình trạng sức khỏe tốt trong những ngày cuối cùng của hành trình.
Tuy nhiên, một số lỗi trên con tàu và trong chương trình không gian của Liên Xô đã dẫn đến cái chết bi thảm của các phi hành gia. Michael Smith, một nhà sử học tại Đại học Purdue, người đã nghiên cứu chương trình không gian của Liên Xô, nói rằng Soyuz 11 có thể coi như một nghiên cứu kinh điển về lập kế hoạch rủi ro.
Soyuz 11 bao gồm ba mô-đun. Ở phía trước là một mô-đun hoạt động trong không gian cho phi hành đoàn. Trong cabin chứa ba người và phía sau là một mô-đun dịch vụ chứa động cơ và nguồn điện. Để tách các mô-đun, các hộp chứa chất nổ được kích hoạt theo thứ tự. Nhưng trong sự cố này, chúng đã được kích hoạt cùng một lúc.
Và không may, sự rung chấn của việc tách các mô-đun đã khiến một ống van trong cabin mở ra khi con tàu ở độ cao chết người. Không khí bên trong nhanh chóng bị xả hết và chỉ trong vài giây, các phi hành gia đã mất ý thức.
Không có bộ đồ phi hành gia và hệ thống oxy khẩn cấp để bảo vệ, các phi hành gia đã tử vong. Vị trí của thi thể sau đó cũng chỉ ra rằng Dobrovolski và Patsayev đã cố gắng đóng ống van, nhưng không thể phản ứng đúng lúc.
Chỉ hai phút sau khi hạ cánh, một đội cứu hộ bằng trực thăng đã tiếp cận mô-đun lúc đó nằm nghiêng trên mặt đất.
Khi mở cửa, họ phát hiện cả ba người ngồi trên ghế trong 'tư thế yên bình'. Có những đốm xanh trên mặt. Máu chảy ra từ mũi và tai các phi hành gia. Cơ thể của Dobrovolsky vẫn còn ấm. Các bác sĩ đã cố gắng hồi sức nhưng không thành công. Theo báo cáo, cái chết là do ngạt thở.
Không khó để tưởng tượng cảm giác mà các phi hành gia đã trải qua trong những giây đầu tiên của sự cố. Sự đau đớn khắp cơ thể khiến họ không thể suy nghĩ và hiểu được gì đang xảy ra. Chắc chắn, họ đã nghe thấy tiếng rít của không khí thoát ra, nhưng màng nhĩ của họ nhanh chóng bị vỡ, và sự im lặng hoàn toàn bắt đầu. Dựa vào tốc độ giảm áp suất, họ có thể cố gắng di chuyển và làm gì đó trong khoảng 15 đến 20 giây đầu tiên.
Van mở khi độ cao khoảng 170 km, vượt qua ranh giới Karman - ranh giới ảo thường được dùng để xác định việc đạt đến không gian. Dobrovolsky, Volkov và Patsayev là những người duy nhất đã chết ngoài ranh giới này đến nay.
Một điều đáng tiếc là nếu các phi hành gia mặc bộ đồ vũ trụ, họ có thể sống sót sau vụ giảm áp suất. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phổ biến trong nhiệm vụ, vì thử nghiệm trước đó không đủ, một phần do sự vội vã trong cuộc đua vào không gian.
'Rất nhiều sự cố trên tàu vũ trụ không hiện ra ngay', giáo sư Siddiqi nói. 'Đôi khi bạn phải kiểm tra nó 50 lần trước khi xảy ra điều gì đó. Vì vậy, họ chưa bay nhiều đủ để thực sự biết cách phản ứng.'
Đóng góp vào lịch sử

Người dân đang diễu hành qua Quảng trường Đỏ ở Moscow để tưởng nhớ ba phi hành gia đã mất.
Theo tạp chí Time, đã có một ngày quốc tang kèm theo lễ tang quốc gia lớn. Lời chia buồn từ các nhà lãnh đạo Liên Xô đã gửi đến gia đình của các phi hành gia. Các nhà lãnh đạo quốc gia khác cũng đã gửi lời chia buồn.
Trong một thư gửi Nikolai Podgorny, Tổng thống Mỹ Richard Nixon viết: 'Nhân dân Mỹ và tôi chia sẻ cùng với bạn và nhân dân Liên Xô sự thương tiếc sâu sắc về cái chết thương tâm của ba phi hành gia Liên Xô. Toàn thế giới đã chứng kiến sự dũng cảm của những nhà thám hiểm này trong việc khám phá những điều chưa biết và chia sẻ nỗi đau về thảm kịch của họ. Tuy nhiên, thành tựu của Dobrovolsky, Volkov và Patsayev sẽ sống mãi.'
Theo giáo sư sử học Siddiqi, cái chết của ba phi hành gia đã ảnh hưởng lâu dài đến chương trình vũ trụ của Liên Xô. Trong vòng hai năm tiếp theo, không có các chuyến bay mới được thực hiện.
Đến cuối những năm 1970, không có trường hợp tử vong nào xảy ra nữa. Liên Xô đã phóng trạm vũ trụ Salyut 6 vào năm 1977. Nhiều phi hành đoàn đã cập bến và hoạt động tại đây, và thời lượng của các nhiệm vụ được kéo dài từ ba tháng lên sáu tháng.
Một điều đáng mừng hơn là đã có những cải tiến và sửa đổi sau đó cho các tàu vũ trụ dòng Soyuz (bao gồm cả bộ quần áo phi hành gia được sử dụng trong quá trình đi và trở về) đã tăng đáng kể độ bền.
Tham khảo từ Business Insider
