.png)

Đây là một trong những câu hỏi mà tất cả các du học sinh và những người đang lên kế hoạch du học đều đã từng tự đặt. Không đề cập đến những mục tiêu xa vời như việc xin quốc tịch, hầu hết mọi người đều mong muốn có cơ hội làm việc và sinh sống ở nước ngoài sau khi hoàn thành chương trình học.
Tác giả của bài viết này luôn mong muốn có cơ hội làm việc ở nước ngoài và có ước mơ đạt được quốc tịch của một quốc gia phát triển (như Anh, Úc, Mỹ, Canada hoặc New Zealand) sau khi tốt nghiệp để mang về Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã gặp thất bại toàn diện trong lần du học Mỹ đầu tiên. Mặc dù tôi thành công trong việc đạt học bổng và học tại một trường danh tiếng như mong muốn, nhưng mọi kế hoạch liên quan đến việc tìm việc làm sau khi tốt nghiệp lại không như mong đợi.
Khi đi du học Úc để làm nghiên cứu sinh (tiến sĩ), tôi chỉ tập trung vào việc nghiên cứu mà không nghĩ đến việc kiếm việc làm và từ bỏ ước mơ đạt được quốc tịch của một quốc gia lớn. Vào thời điểm đó, tôi đã có kinh nghiệm đau thương với Mỹ, và cũng trở nên chín chắn hơn nên trở nên thực tế hơn và ít mơ mộng hơn. Điều kỳ lạ là khi bạn không mong đợi quá nhiều từ một điều gì đó, nó lại đến với bạn một cách tự nhiên.
Úc là một quốc gia dễ sống, có nhiều cơ hội nghề nghiệp và quan trọng nhất, chính phủ họ có chính sách nhập cư vô cùng rộng rãi. Kết quả là tôi có cơ hội trải nghiệm nhiều công việc ở Úc và đạt được Thẻ Cư Trú (PR) sau khi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh. (PR, viết tắt của Permanent Residence – tương đương 'thẻ xanh' ở Mỹ, là loại visa cho phép bạn ở lại vô thời hạn, có quyền lao động và hưởng các quyền lợi như một công dân, và sau một thời gian nhất định bạn có thể apply xin quốc tịch)
Tôi may mắn khi có cơ hội đi du học lần hai ở một quốc gia khác để có trải nghiệm mới, và nhận ra rằng mình đã mắc nhiều sai lầm trong việc lên kế hoạch, đặt quá nhiều cảm xúc vào việc chọn trường/học và không quan tâm đến các yếu tố thực tế hơn.
Trong bài viết này, tôi sẽ chia sẻ một số lời khuyên và kinh nghiệm cá nhân về việc lên kế hoạch du học một cách hiệu quả nhất, để đáp ứng mong muốn 'có cơ hội làm việc' và 'có cơ hội nhận passport của một quốc gia phát triển' sau khi hoàn thành chương trình học ở nước ngoài. Đồng thời, khi nói đến hiệu quả, chúng ta cũng cần phải tiết kiệm chi phí một cách tối đa để đạt được mục tiêu của mình.

Đa số các bạn trẻ hiện nay (bao gồm cả bản thân tôi trước đây) thường không có lý do cụ thể hoặc không dựa trên nghiên cứu kỹ lưỡng để chọn quốc gia du học, mà thay vào đó, quyết định dựa trên cảm tính. Chúng ta thường nghe câu 'em thích đi Mỹ', 'em muốn đi Anh', 'em thích đi Pháp', mà không có lý do thuyết phục đi kèm. Sự ảnh hưởng sâu rộng của phương tiện truyền thông và văn hóa đại chúng thông qua phim ảnh, âm nhạc, mạng xã hội và các thương hiệu phương Tây đã khiến chúng ta cảm thấy liên kết với văn hóa Mỹ. Chúng ta không thể phủ nhận rằng chúng ta đã bị chi phối một phần nào đó bởi văn hóa đại chúng của các quốc gia lớn như Mỹ, Anh, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Hiệu ứng tiêu cực này đã dẫn đến việc không chỉ người Việt Nam mà còn nhiều người ở châu Á, châu Phi và châu Âu đều khao khát được học tập tại Mỹ. Những người đã tìm hiểu sâu hơn về thị trường giáo dục sẽ biết rằng Mỹ là quốc gia có học phí đắt nhất thế giới. Do đó, họ đã thu được lợi nhuận lớn từ ngành giáo dục và các ngành liên quan như tiêu dùng và du lịch, nhờ sự đổ dồn của sinh viên quốc tế từ khắp nơi trên thế giới.
Cho dù không biết rằng việc du học có thực sự mang lại sự khác biệt hay không, thì thực tế là sự cạnh tranh tại các quốc gia như Mỹ là rất cao, để không nói là cao nhất trong số các nước phát triển. Có hạn chế về cơ hội việc làm, nhưng số lượng sinh viên quốc tế đổ về Mỹ vẫn tăng. Đối với tôi, việc tìm kiếm cả việc làm toàn thời gian và bán thời gian ở Mỹ đều gặp nhiều khó khăn, hoàn toàn khác biệt so với thị trường lao động sôi động và linh hoạt ở Úc.
Sau này, tôi nhận ra rằng sự khác biệt giữa Úc và Mỹ là điều dễ hiểu (mặc dù với đa số bạn trẻ ở Việt Nam, cả hai đều là các quốc gia Tây nói tiếng Anh). Ở những nước như Mỹ, cạnh tranh quá lớn và thị trường lao động đã đạt đỉnh, bạn sẽ cần nỗ lực và đầu tư nhiều hơn để có được những thứ tương tự như ở một quốc gia khác (quốc tịch, việc làm, nhà ở, ô tô). Đó là lý do tại sao chúng ta thường nghe Tổng thống Mỹ thảo luận về việc 'tạo ra việc làm'. Bạn đã hiểu chưa? Việc làm là một vấn đề quan trọng mà người Mỹ quan tâm và đấu tranh để đạt được, liệu nó có dễ dàng với sinh viên quốc tế và người nhập cư không?
Ở Úc, đất nước trẻ hơn Mỹ, có diện tích rộng lớn, dân số thưa thớt, khí hậu dễ chịu, thiên nhiên phong phú, và nhiều tài nguyên như dầu mỏ, vàng, than, quặng kim loại... Đây là lý do mà thế giới gọi Úc là 'Đất nước may mắn'. Điều tuyệt vời hơn là chính sách nhập cư của Úc vẫn cởi mở vì nhiều lĩnh vực vẫn đang thiếu lao động. Tương tự, New Zealand và Canada cũng là những quốc gia cởi mở về nhập cư và đang cần thêm lao động cho thị trường lao động của họ.
Có thể thấy rằng các quốc gia nói tiếng Anh không giống nhau như bạn nghĩ, chúng khác biệt rất nhiều về kinh tế, thị trường lao động, và các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách nhập cư. Nếu bạn nghiêm túc với kế hoạch xin việc hoặc nhập tịch, bạn cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng chính sách nhập cư và thị trường lao động của quốc gia mình quan tâm, không nên quyết định dựa vào cảm tính. Ở những quốc gia 'già', đã phát triển và có nhiều tài năng như Mỹ, mọi thứ luôn khó khăn hơn nhiều so với các quốc gia nói tiếng Anh khác như Úc, New Zealand, và Canada.
Dù bạn còn trẻ và có thể bị ảnh hưởng nhiều bởi phim ảnh, nhưng khi trưởng thành hơn, bạn sẽ nhận ra rằng ở những nơi cạnh tranh ít, có tài nguyên dồi dào và cơ hội kiếm việc làm và làm giàu, xã hội bình yên, ít bạo lực và ít phân biệt chủng tộc mới là nơi bạn cần đầu tư. Đáng lưu ý là các quốc gia tôi đã đề cập đều có học phí thấp hơn rất nhiều so với Mỹ.

Trước khi đi du học Mỹ, tôi đã nghĩ rằng hầu hết là sẽ 'ở lại được' và coi đó như một lựa chọn. Thật tiếc, không chỉ riêng Việt Nam mà sinh viên từ các quốc gia khác cũng mơ ước ở lại, xin việc làm và nhập tịch tại các quốc gia nói tiếng Anh. Do đó, khi nộp đơn xin thường trú (thẻ xanh) hoặc xin việc ở Anh, Úc, hoặc Mỹ, bạn đang cạnh tranh trực tiếp với sinh viên quốc tế và sinh viên từ khắp nơi trên thế giới.
Khi tôi làm việc làm tiến sĩ ở Úc, tôi đã thấy thị trường nhập cư ở đây rất sôi động thông qua công việc của một công ty luật. Ngoài việc apply theo diện kỹ năng từ sinh viên du học, còn có những hồ sơ đăng ký theo diện kết hôn và đặc biệt là diện đầu tư dành cho các doanh nhân giàu có của Việt Nam. Với những người có khả năng đầu tư, họ có thể mua trái phiếu chính phủ để được cấp thẻ xanh.
Chiến đấu để có được quốc tịch không hề đơn giản, đây là cuộc đấu tranh của người giàu (visa đầu tư), người tài năng (visa tay nghề), hoặc người may mắn (visa kết hôn). Để đạt được mục tiêu, cần phải dành rất nhiều thời gian nghiên cứu và lập kế hoạch chiến lược, hoàn thành các thủ tục và giấy tờ, cũng như đầu tư một khoản tiền không nhỏ vào quá trình xin PR. Không ai dễ dàng có được quốc tịch chỉ bằng việc du học và đầu tư, chắc chắn không có nhiều người giàu ở Việt Nam sẽ đầu tư hàng triệu đô để lấy quốc tịch.
Không nên nhầm lẫn giữa 'đi về' để xây dựng đất nước và 'ở lại xứ người', vì thế giới đã phẳng và bạn có thể đi đến bất kỳ đâu bạn muốn. Tuy nhiên, quyền lực của hộ chiếu bạn cầm trong tay là quan trọng. Đây cũng là lý do tại sao những người giàu sẵn lòng chi một số tiền lớn để có được quốc tịch của các nước như Anh, Úc, Mỹ, Canada; họ muốn có quyền tự do di chuyển toàn cầu.

Làm việc trong lĩnh vực di trú, tôi nhận thấy nhiều hồ sơ độc đáo, đặc biệt là một hồ sơ từ một người Việt đang làm việc ở Singapore. Dù học ở Singapore rẻ hơn nhiều so với các nước nói tiếng Anh khác nhưng lại có được kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài và chuẩn bị nhập tịch Úc, điều này cho thấy một quyết định thông minh.
So với những người bỏ ra số tiền lớn để theo đuổi giấc mơ Mỹ nhưng lại trở về với tay trắng, bạn kia đã đầu tư một cách thông minh và thành công hơn.
Một người bạn của tôi đã có thể chuyển từ Úc sang Mỹ để làm việc sau khi đã có quốc tịch Úc, điều này cho thấy không nhất thiết phải học ở Mỹ mới có thể làm việc ở Mỹ.
Một người đồng nghiệp khác ở trường RMIT đã trải qua hành trình tương tự, nhưng sau khi không thể ở lại Mỹ, chị ấy không chấp nhận thất bại. Thay vào đó, chị đã thành công trong việc apply xin PR ở Úc và hiện đang làm công việc giảng dạy tại Việt Nam và sở hữu thẻ xanh của Úc.
Các câu chuyện thực tế này chứng minh rằng nếu có quyết tâm và chiến lược, mục tiêu của bạn không còn xa vời. Hãy luôn mở mang tư duy, tìm kiếm cơ hội mới và không bao giờ từ bỏ mục tiêu của mình.

Nghe tôi kể và các câu chuyện khác, bạn có thể cảm thấy mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, việc kiếm công việc và có PR ở nước ngoài không phải là chuyện đơn giản, đòi hỏi sự chuẩn bị và tính toán kỹ lưỡng từ trước.

Khi tôi đến Úc vào năm 2014, tôi đã lập kế hoạch để hoàn thành luận án TS vào năm 2018 và may mắn là tôi đã làm được. Tôi đã nộp hồ sơ xin PR ngay sau khi có bằng vào năm 2019 và được cấp PR vào năm 2020. Dù nghe có vẻ nhanh chóng nhưng thực tế là tôi đã bắt đầu chuẩn bị giấy tờ từ năm 2016 khi tôi đã quyết định loại visa mình sẽ apply để có được PR. Đó thực sự là một quá trình dài dằng dặc, đòi hỏi nhiều công sức và tiền bạc, nhưng cuối cùng thì đáng giá.

P/s: Nếu bạn muốn biết thêm chi tiết về các loại visa diện tay nghề và quy trình apply xin PR, hãy chờ đợi bài chia sẻ tiếp theo của tôi.
Nguồn: Victor Tran from Scholarship Hunters
