Ngày này, 26/3, là ngày kỷ niệm của Đoàn Thanh niên xung phong Việt Nam. Là một ngày ý nghĩa, khi mà mọi người nhớ về những sự hy sinh và lòng dũng cảm của tuổi trẻ đã đứng lên để bảo vệ đất nước, mang lại sự tự do và độc lập cho dân tộc. Đọc câu chuyện ngắn ngày 26/3 để lại lời ca ngợi sự hi sinh vĩ đại của những anh hùng dân tộc.
Những câu chuyện ngắn về ngày 26/3: Hay và ý nghĩa
1. Vừ A Dính - Thiếu Niên Anh Hùng.
2. Lý Tự Trọng - Dũng Sĩ Quê Hương Hà Tĩnh.
3. Chàng Bé Lượm Vàng.
4. Nguyễn Văn Trỗi - Gương Sáng Của Chiến Sĩ Cách Mạng.
5. Võ Thị Sáu Và Hành Trình Đấu Tranh Với Lựu Đạn.
Tuyển Chọn Truyện Ngắn 26/3 Đặc Sắc
1. Câu Chuyện Ngắn Ngày 26/3: Vừ A Dính - Thiếu Niên Anh Hùng
Vừ A Dính sinh ra trong một gia đình người Mông truyền thống yêu nước và cách mạng. Từ nhỏ, Dính đã tỏ ra thông minh, dũng cảm và nhanh nhẹn. Dưới sự bồi dưỡng của cha mẹ, Vừ A Dính đã sớm nhận thức được ý nghĩa của cách mạng và nuôi thù hận với giặc Pháp. Ngay từ khi chỉ mới 13 tuổi, Dính đã tham gia canh gác để bảo vệ bản làng trước sự tấn công của giặc. Một lần, khi phát hiện giặc đang tiến hành cuộc tấn công, Dính đã liều mình lao vào cảnh báo bằng giọng nói lớn:
- Có Tây kia! Có Tây kia!'
Dân làng lao vào rừng, A Dính vội chạy về nhà kiểm tra xem mẹ và các em đã chạy vào rừng chưa, nhưng lại gặp một toán lính đang tiến tới. Họ đang dẫn phu khuân của cướp bóc trở về đồn. Ngay lập tức họ bắt A Dính theo để khiêng lợn. A Dính cố gắng hết sức để cõng một con lợn to. Khi đến một dốc gần suối, A Dính lên kế hoạch sử dụng địa hình để trốn. Anh ta giả vờ trượt chân, cuốn theo cả con lợn xuống dốc. Nhưng không may cho A Dính, cuối dốc anh ta bị một cành cây chặn ngang đường. Con lợn thoát ra và biến mất trong rừng. Bọn lính Pháp lao đến và đánh đuổi, sau đó bắt A Dính về giam tại đồn Bản Chăn. Đồn trưởng Pháp ra lệnh:
- Nó đã làm mất con lợn, phải trả giá bằng tính mạng.
Khi biết sáng mai sẽ bị hành quyết, đêm đó Vừ A Dính đã kêu gọi ông Vừ Sa, một người già ở bản Phiêng Pi cũng bị bắt giữ, cùng nhau phá mái trại giam và vượt qua nhiều bốt canh để trốn thoát.
13 tuổi, Vừ A Dính bắt đầu cuộc hành trình xa rời gia đình, trở thành một thành viên liên lạc trong đội vũ trang của huyện Tuần Giáo. Đội vũ trang của anh hoạt động rộng lớn, từ châu Điện Biên đến châu Tuần Giáo và ngược lại, từ châu Tủa Chùa. Họ lẩn trốn và hiện diện tại nhiều bản làng khác nhau, để vận động và hỗ trợ bà con dân tộc, xây dựng tổ chức cách mạng và tổ chức kháng chiến bí mật chống lại sự xâm lược của Pháp.
Mặc dù cuộc sống trong kháng chiến đầy gian khổ, nhưng Vừ A Dính vẫn giữ lòng lạc quan và yêu đời. Anh ta rất hăng hái trong việc học hỏi và đạt thành tích khá cao trong học tập. Luôn mang theo cuốn sách trong ngực áo, anh ta học đọc và viết chữ rất thành thạo.
Do kẻ thù tăng cường săn lùng và tiêu diệt đội vũ trang, đơn vị của Dính phải liên tục di chuyển khắp nơi. Để bảo mật, họ thường cư trú trên các ngọn núi cao, xa nguồn nước. Điều này khiến cuộc sống trở nên cực kỳ khắc nghiệt. Dính được giao nhiệm vụ lấy nước và anh đã thực hiện nhiệm vụ đó rất khéo léo, luôn đảm bảo rằng đơn vị có đủ nước sạch để sử dụng. Nhiệm vụ chính của anh là duy trì giao thông và liên lạc. Mỗi khi được giao nhiệm vụ, Dính luôn mưu trí, đảm bảo an toàn và luôn trở về sớm hơn thời gian qui định. Đồng đội hỏi tại sao Dính lại thông thạo như vậy trong việc di chuyển qua rừng, Dính chỉ cười và nói:
- Từ nhỏ, tôi đã quen với việc leo núi, đi nhanh rồi đấy!
Giữa tháng 6 năm 1949, quân Pháp đã huy động mạnh mẽ lực lượng quân lính từ các đồn điểm trong khu vực để tiến hành vây hãm và tiêu diệt đội vũ trang Tuần Giáo của Vừ A Dính. Gần một nghìn quân lính đổ về căn cứ quân sự Pú Nhung từ mọi hướng. Một đội quân Pháp do một đội lính Tây chỉ huy đã bí mật tiến hành phục kích tại một bản làng bỏ hoang gần Pú Nhung.
Trong lúc đó, Dính vừa gặp mẹ trở về một cách bí mật, trên lưng còn mang theo một túi đạn mà mẹ mới trao, còn người thì ướt sũng. Do sương mù phủ kín, việc quan sát trở nên khó khăn. Dính bất ngờ rơi vào ổ phục kích của quân giặc mà không hề hay biết. Đội trưởng lính Tây nhận ra đây là một đối tượng liên lạc của phe du kích, hắn tỏ ra tự tin và hỏi:
- Các ông đến từ đâu? (quân Pháp thường gọi cán bộ Việt Minh ở tỉnh Lai Châu là 'các ông tỉnh')
A Dính bình tĩnh đáp:
- Tôi không biết!
Một thành viên của đội lính Tây cất giọng lớn lên:
- Đám đàn ông mặc áo xanh kia mày mang bao đạn về để bọn chúng tôi bắn chết mà mày không biết à? Nếu mày không thú nhận ngay, tôi sẽ bắn mày vỡ đầu ngay lập tức!
Dính vẫn giữ vững bình tĩnh và trả lời:
- Tôi không biết!
Thằng lính Tây không kiềm chế được lòng căm giận, lao vào đánh Vừ A Dính dã man. Lũ giặc xen kẽ nhau tấn công, đánh Dính đến trưa mới dừng lại. Dù bị đánh tan nát, Dính vẫn chỉ trả lời hai từ 'không biết!'. Một tên lính tàn bạo đã dùng súng cối đập gãy một bên chân của A Dính, làm cho cậu chảy máu và đau đớn. Mặc cho cơ thể bầm tím, Dính không lảng tránh và không phàn nàn. Đêm hôm đó, giặc trói Dính dưới gốc cây đào giữa rừng sương lạnh.
Ngày hôm sau, và mỗi đêm sau đó, kẻ thù tiếp tục tra tấn và để đói, khát Dính giữa rừng. Sự kiên định của Vừ A Dính đã khiến nhiều tên lính ác mặt. Vào sáng ngày thứ ba kể từ khi bị bắt, một đội lính Tây lại đến và cố gắng dụ dỗ Dính:
- Nếu mày nói một câu, tao sẽ cho mày thuốc, chữa chân gãy và đưa mày ăn uống đàng hoàng cùng thưởng tiền nhiều. Nào, mày nói đi, ông tỉnh ở đâu?
Dính không mở miệng, cứ lặng lẽ như tảng đá dù bị ép. Lúc đó, những người Thái, Mông, Xá bị bắt đi ngang qua nhìn thấy Dính, ai cũng rơi nước mắt. Dính nhận ra một người làng và vội nhắn bằng tiếng Mông:
- Các anh ra lấy túi tài liệu tôi giấu trong rừng.
Dù gặp ai quen Dính cũng nhắn như thế trước mặt lũ lính gác.
Thằng lính Tây ra lệnh cho đám lính:
- Con này tài ba quá. Chỉ cần nó trốn đi, chúng ta sẽ thua.
Vào đêm, chúng gửi 4 tên lính canh gác quanh A Dính. Biết khó trốn thoát khỏi kẻ thù, sáng hôm sau khi thằng lính Tây đến, Vừ A Dính giả vờ gật đầu: 'Biết rồi!' Thằng đội gọi lính mang sữa, bánh đến nhưng Dính chỉ uống vài ngụm nước rồi nói:
- Làm gì cho tao!
Suốt một ngày, Dính dẫn bọn giặc đi khắp núi rừng nhưng vẫn không tiết lộ vị trí của đơn vị. Chiều tối, Dính dẫn chúng quay trở lại nơi ban đầu. Nhìn bầu trời và núi rừng quê hương, Dính mỉm cười. Thấy bị lừa, thằng lính Tây giận dữ và bắn Dính. Sau đó, hắn ra lệnh treo xác Dính lên cây đào cổ thụ. Giặc tẩu thoát được nhiều ngày nhờ xác Dính làm bẫy. Đó là chiều tối ngày 15-6-1949. Vừ A Dính hy sinh dũng cảm gần đồn Bản Chăn, chưa tròn 15 tuổi.
=> Cuộc sống của Vừ A Dính, một anh hùng nhỏ tuổi, dù kết thúc sớm nhưng tinh thần kiên cường, không khuất phục của anh đã truyền cảm hứng cho mọi người. Không chỉ ở Pú Nhung mà cả Việt Nam đều học theo tấm gương của A Dính, để trở thành những công dân xứng đáng với truyền thống cách mạng.
2. Truyện ngắn ngày 26/3: Lý Tự Trọng - Anh hùng của Hà Tĩnh
Lý Tự Trọng, tên thật là Lê Văn Trọng, xuất thân từ xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra tại làng Bản Mạy, Thái Lan. Ông là con của Lê Hữu Đạt và Nguyễn Thị Sờm. Từ năm 1923, ông được gửi sang Trung Quốc học tập, thành thạo tiếng Hán và tiếng Anh. Lý Tự Trọng tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên.
Năm 1929, Lý Tự Trọng về Việt Nam tham gia thành lập đoàn TNCS Hồ Chí Minh và làm liên lạc cho xứ uỷ Nam Kì với Đảng Cộng sản Việt Nam. Anh cũng hoạt động trong việc liên lạc với các đồng chí cộng sản ở nước ngoài. Ngày 09/02/1931, trong một cuộc biểu tình tưởng nhớ nạn nhân của cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Lý Tự Trọng đã bắn chết một thanh tra mật thám tên Lơ Gơrăng, và sau đó bị bắt và bị tra tấn dã man.
Năm 1931, một ngày cuối xuân, Lý Tự Trọng được thực dân Pháp đưa từ Bót Catina ra tòa án để kết án tử hình. Dù mới chỉ 17 tuổi, anh đã dũng cảm đứng lên, phê phán chế độ thực dân và kêu gọi nhân dân đấu tranh. Luật sư bào chữa yêu cầu tòa xem xét về tuổi của anh, nhưng Lý Tự Trọng từ chối:
Lý Tự Trọng quả quyết nói:
- Tôi không hành động mà không suy nghĩ. Tôi hiểu rõ những gì mình làm. Tôi hành động vì mục tiêu cách mạng. Dù chưa đủ tuổi thành niên, tôi hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng. Tôi tin rằng nếu mọi người suy nghĩ kỹ, họ cũng sẽ thấy cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người như tôi.
Chánh án, một kẻ lãnh đạo của thực dân, tuyên án tử hình cho anh. Tuy nhiên, Lý Tự Trọng vẫn bình tĩnh. Một quan Pháp hỏi anh có hối hận không, nhưng Lý Tự Trọng chỉ nói một câu:
- Không hối hận điều gì cả!
Trong xà lim án chém khám lớn ở Sài Gòn, Lý Tự Trọng sống quyết liệt trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. Mọi điều về anh được lan truyền ra ngoài từ những kẻ gác ngục, những tên chủ khám với lòng kính trọng và khâm phục:
- Ông nhỏ, mỗi ngày đều tập thể dục! Nhìn ông nhỏ, không ai ngờ rằng anh là người đang đợi ngày lên máy chém.
Lý Tự Trọng yêu quê hương, yêu đồng bào, yêu đồng chí của mình, và càng yêu cuộc sống, sống hết mình trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời mình mà không lãng phí bất cứ điều gì, không để tinh thần mình bị nhiễm mầm bi quan, dù biết rằng sắp phải đối mặt với sự hành hình của kẻ thù. Bọn thực dân cố gắng phá vỡ ý chí thép của anh, nhưng tất cả những lời dụ dỗ đều bị anh đánh bại.
=> Tinh thần kiên cường của anh hùng Lý Tự Trọng không chỉ làm kẻ thù kinh sợ mà còn truyền cảm hứng cho mọi người, là nguồn động viên mạnh mẽ cho phong trào cách mạng. Dù cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của ông ngắn ngủi, nhưng tấm gương về người anh hùng luôn là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ.
3. Truyện ngắn ngày 26/3: Chuyện của Chú Lượm
Câu chuyện mà tôi sẽ kể dưới đây đã diễn ra cách đây nhiều thập kỷ, vào thời ông nội tôi còn sống, lúc ông vẫn trẻ và đầy nhiệt huyết tham gia cuộc chiến đấu chống Pháp. Lúc ấy, ông tôi được giao nhiệm vụ đi công tác tại Thừa Thiên - Huế. Tại đó, ông đã gặp một thiếu niên gan dạ, anh hùng.
Vào đầu năm 1947, đi cùng với đoàn công tác của ông tôi có nhà thơ Tố Hữu, đến Huế nhận chức chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Huế lúc ấy đang trong tình trạng tàn phá. Chưa lâu sau khi trở lại, Pháp đã gieo rắc ở đây biết bao tội ác. May mắn là nhờ sự che chở của nhân dân mà nhiều khu vực căn cứ bí mật của chúng ta vẫn an toàn. Sau khi nghe báo cáo tình hình, ông tôi cùng nhà thơ Tố Hữu và một số đồng chí quyết định đi khảo sát ngay tình hình phong trào kháng chiến tại nội thành.
Trong bóng đêm ấy, họ đi trên những con đường bí mật, gần những căn bốt canh của địch. Khi đến khu vực đồn Mang Cá, ông tôi cảm thấy không khí chiến đấu hăng hái của đồng đội, rất phấn khích. Sau khi báo cáo tình hình, các đồng chí dẫn ông tôi và nhà thơ đến gặp một chàng bé khoảng 10 tuổi, rất nhanh nhẹn và hoạt bát. Một đồng chí giới thiệu:
Báo cáo với hai vị, đây là em Lượm, một đồng chí liên lạc xuất sắc nhất trong đồn hiện nay.
- Em bao nhiêu tuổi rồi?
- Em được 12 tuổi ạ!
- Cháu đã liên lạc xong rồi, chú ạ.
- Đồn Mang Cá thật tuyệt vời! Cháu không muốn về nhà nữa đâu, chú ạ!
- Thành Huế sẽ thắng Pháp nhanh chóng nếu có nhiều người như cháu, chú ạ.
Cậu bé vui vẻ chào tạm biệt đồng đội và tiếp tục nhiệm vụ. Dù nhỏ nhắn nhưng cậu có đôi chân nhanh nhẹn như sóc. Bên cạnh chú là chiếc xắc đựng công văn, thư từ và mệnh lệnh. Công việc nguy hiểm nhưng cậu luôn vui vẻ và hồn nhiên. Ánh mắt sáng rực và đầy năng lượng, phù hợp với chiếc mũ ca lô xinh xắn đội lệch trên đầu.
Một ngày, ông và nhà thơ Tố Hữu đang làm việc tại cơ quan thì một đồng chí từ đồn Mang Cá gõ cửa xin được vào báo cáo. Sau khi trình bày xong các phương án bố phòng và chiến đấu, đồng chí đau đớn báo tin: cháu Lượm đã hi sinh!
Cả ông và nhà thơ Tố Hữu đều im lặng, những giọt nước mắt từ từ rơi xuống. Đồng chí liên lạc viên tiếp tục kể:
- Hôm đó, như mọi ngày, Lượm nhận công văn từ đồn và đi triển khai công tác. Em cố gắng hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh nhất. Nhưng trên đường, em bị tấn công bất ngờ bởi quân địch. Lượm đã vứt bỏ công văn và chạy trốn, nhưng không thoát khỏi. Em hy sinh. Khi chúng tôi đến, mặt em đã lạnh, nhưng môi vẫn nở một nụ cười. Một tay cầm chiếc ca lô, tay còn lại vẫn kềm chặt một bông lúa sữa.
Người liên lạc kết thúc câu chuyện với nước mắt. Ông nội đã mang câu chuyện về Lượm đi kể khắp nơi cho các cháu thiếu nhi. Ở mỗi nơi, ông đều giữ tấm gương dũng cảm ấy để truyền cảm hứng cho các cháu. Sau khi hòa bình trở lại, ông mang câu chuyện về quê để dạy con cháu về truyền thống và lòng dũng cảm.
=> Khi nhắc đến Lượm, mọi người luôn nhớ đến hình ảnh chú bé nhỏ nhắn, đeo chiếc xắc, đội mũ lệch và luôn tươi cười khi đi làm nhiệm vụ. Sự hy sinh của Lượm trong khi làm nhiệm vụ là tấm gương sáng cho các thế hệ học theo và học hỏi.
4. Truyện ngắn ngày 26/3: Tấm gương hy sinh cách mạng rạng ngời của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi
Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1-2-1940 tại làng Thanh Quýt, nay là xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Năm 1956, Nguyễn Văn Trỗi tự mình đến Sài Gòn sinh sống. Tại đây, anh làm công nhân và học nghề điện, sau đó trở thành công nhân Nhà máy điện Chợ Quán.
Vào năm 1963, Nguyễn Văn Trỗi gia nhập lực lượng biệt động tại Sài Gòn. Tham gia hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Một lần anh đã ném lựu đạn làm tiêu diệt và gây thương vong cho một số quân địch.
Nghe tin phái đoàn quân Mỹ do Mắc Namara - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sẽ đến Sài Gòn thăm chiến trường vào tháng 5-1964, lực lượng của chúng ta đã lập kế hoạch tiêu diệt Mắc Namara. Với lòng yêu nước và lòng căm thù sâu sắc với quân xâm lược, dù mới cưới vợ được hơn 10 ngày, Nguyễn Văn Trỗi vẫn quyết tâm thực hiện nhiệm vụ, cùng đồng đội cài mìn tại cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP. HCM) - nơi dự kiến Mắc Namara và phái đoàn Mỹ sẽ đi qua từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn. Tuy nhiên, khi Nguyễn Văn Trỗi và đồng đội đặt quả mìn nặng 8 kg ở cạnh cầu Công Lý, chuẩn bị hoàn tất công việc thì không may bị phát hiện và bắt giữ.
Để đảm bảo an toàn cho đồng đội và hoạt động, Nguyễn Văn Trỗi không chỉ kiên quyết không khai báo mà còn chấp nhận trách nhiệm. Sau thời gian giam giữ và tra tấn, kẻ thù đã đưa Nguyễn Văn Trỗi ra xử và tuyên án tử hình.
Không chỉ hy sinh tính mạng trong vụ cài mìn ở cầu Công Lý vào năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi còn thể hiện ý chí và niềm tin sắt đá đến phút cuối cùng. Anh không chịu rửa tội và khẳng định Mỹ mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra thảm họa, mang lại cảnh tan hoang, nước mắt và đau đớn cho nhiều gia đình. Anh nhiều lần tuyên bố trước mặt kẻ thù rằng:
- Giặc Mỹ, không ai sống hạnh phúc!
Câu này không chỉ khiến cho các bạn trẻ và nhân dân Việt Nam cảm động mà còn làm xúc động các bạn trẻ và nhân dân tiên tiến trên khắp thế giới.
Mặc dù biết trước mình sẽ đối diện với án tử hình nhưng anh vẫn lạc quan và yêu đời. Trong phòng xử, Nguyễn Văn Trỗi giữ tinh thần bình thản và luôn quyết tâm chiến đấu, chiến thắng. Khi mắt anh bị bịt lại, anh giật mạnh tấm băng đen và nói:
- Không, để tôi nhìn thấy mảnh đất này, mảnh đất yêu quý của tôi.
Trong những giây cuối cùng, anh lớn tiếng hô:
- Hãy nhớ những lời này của tôi
Dập tan đế quốc Mỹ
Đánh bại Nguyễn Khánh
Hồ Chí Minh vĩnh cửu!
Hồ Chí Minh vạn tuế!
Việt Nam vĩnh cửu!
5. Truyện ngắn ngày 26/3: Võ Thị Sáu và cú nổ kinh hoàng diệt kẻ thù
Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, nay là huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị lớn lên trong một vùng quê giàu truyền thống cách mạng. Năm 1947, chỉ mới 14 tuổi, chị gia nhập Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ với mục tiêu trừ gian diệt ác. Từ đó, chị trở thành một chiến sĩ trinh sát, tham gia vào các nhiệm vụ tiêu diệt địch và có nhiều chiến công vang dội.
Tháng 2/1950, chị dẫn đầu một nhóm, sử dụng lựu đạn tấn công, tiêu diệt 2 tên ác ôn Cả Suốt, Cả Đay. Nhưng không may, chị bị bắt giữ bởi địch. Chúng tra tấn chị nhưng không thể ép buộc chị khai ra điều gì. Sau đó, chúng đưa chị về giam ở nhà tù Chí Hòa, Sài Gòn để tra khai và sau đó mở phiên tòa, tuyên án tử hình chị.
Trong phiên tòa lớn, dù chỉ mới 17 tuổi, chị Võ Thị Sáu đã tỏ ra mạnh mẽ và anh dũng như một anh hùng, khiến các quan tòa và đồng bọn phải kính trọng. Chị kiên quyết tuyên bố:
- Yêu nước, chống quân thực dân xâm lược không phải là tội ác!
Khi quan tòa ngắt lời, tuyên án: 'Tử hình, tịch thu toàn bộ tài sản', chị quát thét vào mặt y:
- Tao còn mấy thùng rác ở nhà tù Chí Hòa, mấy ông vào đây mà tịch thu đi!
Sau đó, tiếng hò vang lên mạnh mẽ:
- Đánh bại thực dân Pháp! Kháng chiến sẽ chiến thắng!
Thực dân Pháp muốn hủy diệt ngay cô gái dũng cảm này, nhưng không dám thực hiện án tử hình với một người chưa trưởng thành. Họ phải tiếp tục giam giữ chị tại nhà tù Chí Hòa trước khi đưa chị đến Côn Đảo. Vào ngày 23/1/1952, họ thực hiện án tử bằng cách bắn chết chị trên hòn đảo xa đất liền này sau 2 ngày chị được đưa đến đây. Trước khi bị hành quyết, trong đêm 22, chị đã dành trọn lòng mình cho đất nước và nhân dân bằng những ca khúc cách mạng như: Lên đường, Hành quân, Tiến quân,...
Khoảng 4 giờ sáng ngày 23/1/1952, sau khi tên thủ lĩnh án tử hình hoàn thành thủ tục, một viên pháp sư lên tiếng nói:
- Hãy chuẩn bị cho phép tôi tắm rửa cho con.
Chị đáp trả lạnh lùng viên pháp sư:
- Tôi không có tội. Tội lỗi chỉ thuộc về kẻ chuẩn bị thực hiện án tử hình đối với tôi...
Ông ta vẫn kiên trì thúc giục:
- Trước khi qua đời, con có điều gì nuối tiếc không?
Chị nhìn thẳng vào mắt ông ta và mắt tên thủ lĩnh án, trả lời:
- Tôi chỉ nuối tiếc là chưa loại trừ hết bọn thực dân xâm lược và bè lũ tay sai phản quốc.
Khi đến phòng xử án, thủ lĩnh án hỏi chị:
- Có yêu cầu gì trước khi chết không?
Chị trả lời:
- Đừng che mắt tôi. Hãy để tôi nhìn thấy đất nước yêu quý cho đến giây phút cuối cùng và tôi sẽ đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào khẩu súng của các ngươi!
Sau khi phát biểu, chị bắt đầu cao hát một cách truyền cảm. Bài hát Tiến quân ca vang lên. Giọng ca của người con gái từ Đất Đỏ bây giờ trở nên cảm động và bay bổng hơn bao giờ hết, vượt qua cả tiếng lệnh của thẩm phán đọc án tử hình cũng như tiếng lệnh cho đội quân bắn của đội trưởng lê dương. Khi người chỉ huy ra lệnh cho binh lính chuẩn bị nổ súng, chị ngưng hát và hét lên:
- Đả đảo thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!
Tiếng kêu của chị khiến các quan thần rối bời, bảy tiếng súng vang lên rất gần. Vẫn là Võ Thị Sáu, vẫn kiên cường đứng đó. Đôi mắt chị nhìn chằm chằm vào chúng. Đội trưởng lê dương không thể ra lệnh bắn thêm một loạt đạn nữa. Ông rút súng ngắn, bước lại gần và bắn vào đầu chị một cách dã man...
Sau đó, chiến công và đặc biệt là hành động anh hùng quyết liệt trước kẻ thù của Võ Thị Sáu - người con gái anh hùng của Việt Nam - đã được truyền tụng không chỉ trong các nhà tù mà còn vào giữa những căn phòng của bọn chúa đảo và các gia đình trên toàn Côn Đảo...
Kính chúc các bạn sẽ cảm thấy tự hào và được truyền cảm hứng từ những câu chuyện ngắn ngày 26/3, từ những tấm gương thanh niên hy sinh cho sự độc lập và tự do của dân tộc, để từ đó có động lực học tập, lao động và đóng góp cho sự phát triển của đất nước chúng ta.
Các bạn có thể tham khảo thêm những câu chuyện hài hước về ngày 26/3, đọc những bài thơ viết về ngày này để tận hưởng những phút giây vui vẻ và hiểu sâu hơn về vai trò quan trọng của thế hệ thanh niên và sự hy sinh của họ trong quá khứ.
