

| Cynictis penicillata | |
|---|---|
| Tình trạng bảo tồn | |
Ít quan tâm (IUCN 3.1) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Mammalia |
| Bộ (ordo) | Carnivora |
| Họ (familia) | Herpestidae |
| Chi (genus) | Cynictis Ogilby, 1833 |
| Loài (species) | C. penicillata |
| Danh pháp hai phần | |
| Cynictis penicillata (G. Cuvier, 1829) | |
Cầy vàng mangut (tên khoa học: Cynictis penicillata) là một loài động vật có vú thuộc họ cầy mangut, bộ ăn thịt. Loài này có trọng lượng khoảng 1/2 kg và chiều dài 500 mm. Chúng sống ở các vùng hoang dã từ bán sa mạc đến đồng cỏ có bụi rậm ở Angola, Botswana, Nam Phi, Namibia và Zimbabwe. Cầy vàng mangut là loài ăn thịt, chủ yếu săn mồi là động vật chân đốt nhưng cũng ăn nhỏ các loại động vật có vú, thằn lằn, rắn và trứng các loài. Chúng hoạt động chủ yếu vào ban ngày, mặc dù cũng có thể quan sát được hoạt động về đêm. Chúng sống thành các nhóm lên đến 20 cá thể trong các hang ngầm vĩnh viễn, thường chung sống với sóc đất Nam Phi hoặc meerkat, đôi khi cùng với đàn thỏ và tạo ra đường hầm mới khi cần thiết. Hệ thống hang có nhiều lối vào, gần đó là nơi loài cầy vàng xây dựng tổ.
Các loài săn mồi của cầy vàng bao gồm chim săn mồi, rắn và chó rừng. Khi hoảng sợ, cầy vàng sẽ gầm gừ và phát ra chất lỏng từ tuyến hậu môn của nó. Chúng cũng có thể phát ra tiếng kêu, gầm gừ mặc dù điều này xảy ra không thường xuyên, vì cầy vàng thường im lặng và biểu hiện tâm trạng qua sự vận động của đuôi.
Hình ảnh




Chú thích
- Tài liệu liên quan đến Cynictis penicillata trên Wikimedia Commons
