
Châu báu thừa (zh. 金剛乘, sa. vajrayāna) là một trường phái Phật giáo xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ 5, 6 tại Bắc Ấn Độ. Châu báu thừa bắt nguồn từ Đại thừa (sa. mahāyāna) và được truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản (riêng bộ Vô thượng du-già không được truyền sang Trung Quốc và Nhật), Mông Cổ và Nga. Đây là một trong ba bộ phái Phật giáo chính hiện nay, hai bộ phái còn lại là Phát triển (còn gọi là Bắc tông, Đại thừa, Đại chúng) và Nguyên thủy (còn gọi là Nam tông, Tiểu thừa, Thượng tọa)
Xuất phát từ Phật giáo Đại thừa, nhưng trường phái này lấy thêm những phương pháp tu học huyền bí, có tính chất mật truyền. Thường thường các phái này được hướng dẫn bằng một vị Đạo sư, kinh sách của họ trình bày nhiều phép tu luyện được gọi là Đát-đặc-la (sa. tantra). Châu báu thừa hay sử dụng Chân ngôn (sa. mantra) và có ảnh hưởng mạnh nhất tại Tây Tạng. Vì hay sử dụng Chân ngôn, Phật giáo Tây Tạng cũng gọi Châu báu thừa là Chân ngôn thừa (sa. mantrayāna)
Giáo pháp của Châu báu thừa mang tính chất Mật giáo, bao gồm các yếu tố của phép Du-già (sa. yoga) và các tôn giáo thiên nhiên của Ấn Độ trộn lẫn với tư tưởng Phật giáo. Quan trọng nhất là ảnh hưởng từ Tây Bắc Ấn Độ với nhiều biểu tượng về Tịnh quang (sa. ābhāsvara, cũng được dịch là Cực quang, ánh sáng rực rỡ) cũng như ảnh hưởng của Bắc Ấn về việc tôn thờ tính dục.
Trong giai đoạn ban đầu, giáo phái này chỉ được truyền miệng, và từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 10 mới được tổ chức hóa và hoàn thiện. Các tác phẩm quan trọng nhất của Kim Cương Thừa là Bí mật tập hội và Thời luân đát-đặc-la cũng ra đời trong giai đoạn này. Các kinh sách quan trọng của Kim Cương Thừa gồm có trong các Đát-đặc-la và các bài Chứng đạo ca của các Thành tựu giả, còn được gọi là Tất-đạt, là những bài diễn tả kinh nghiệm từ phép tu Đại thủ ấn (mahāmudrā).
Khi Kim Cương Thừa truyền vào Tây Tạng, đây cũng là lúc giáo phái này đã có vị trí vững chắc trong Phật giáo nói chung. Để hiểu sâu sắc về Kim Cương Thừa, người tu sĩ cần phải có kiến thức rộng về các bộ kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa, giáo phái theo cách giải thích của Long Thụ và Vô Trước. Bát-nhã-ba-la-mật-đa còn được gọi là 'Nhân thừa' và Kim Cương Thừa được gọi là 'Quả thừa'. Trong Kim Cương Thừa, vai trò của một Đạo sư rất quan trọng, người này hướng dẫn đệ tử thiền quán và tập trung vào một Sādhana nhất định. Trong các phép này, sử dụng Chân ngôn, quán Mạn-đồ-la và bắt Ấn là những phương tiện quan trọng. Kim Cương chử, hay chùy kim cương, biểu thị sự Giác ngộ, sự nhất thể của vũ trụ vượt lên trên mọi nhị nguyên thông thường.
Tại Việt Nam
Hòa thượng Thích Viên Thành (1950-2002), trụ trì Chùa Hương đời thứ 11, là Thầy Tổ Phật giáo Kim Cương Thừa của Việt Nam. Ngài đã khai sáng và phát triển Phật giáo Kim Cương Thừa ở nước ta, đưa Truyền thừa Drukpa từ Bhutan vào Việt Nam từ năm 1992 với tâm nguyện đóng góp vào sự phát triển của Phật giáo Việt Nam vì lợi ích người dân và hữu tình trong nước.
- Mật tông
Chú thích
- Fo Guang Ta-tz'u-tien. Phật Quang Đại Từ điển. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.

Phật giáo Tây Tạng | |||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Các truyền thống |
| ||||||||||
| Tu tập |
| ||||||||||
| Thực hành |
| ||||||||||
| Thể chế |
| ||||||||||
| Nhân vật |
| ||||||||||
| Kinh văn |
| ||||||||||
| Pháp khí |
| ||||||||||
| Tự viện |
| ||||||||||
| Địa phương |
| ||||||||||
| Tiêu đề chuẩn |
|
|---|
