“Đèo Ngang vác trách nhiệm hai vai / Một vai Hà Tĩnh, một vai Quảng Bình” – Câu thơ lục bát này vẫn là điều bí ẩn, nhưng khi lớn lên, tôi nghe nhiều người ở vùng quanh đèo Ngang ngâm nga và truyền miệng cho nhau nghe.
Bước vào thế giới của đèo Ngang với bóng xế tà, cỏ cây như thảm thảm lụa, đá như viên ngọc lấp lánh

Làng biển ở bờ nam sông Ròn, cách đèo Ngang hơn 10 cây số. Vì vậy, từ khi còn nhỏ, tôi đã cùng bạn bè châm chước chân lên con đèo này, đôi khi để chặt cây về làm củi, đôi khi xuống bãi biển Vĩnh Sơn (nay là xã Quảng Đông, tỉnh Quảng Bình) dưới chân đèo để mò cua, bắt ốc, hái rau trang, rau nức…
Trong những năm trưởng thành, đi từ Bắc vào Nam để kiếm sống, chúng tôi thường xuyên di chuyển qua quốc lộ 1A, qua dãy Hoành Sơn – một tên khác của đèo Ngang – một dãy núi nổi tiếng trong lịch sử nước nhà.
Quốc lộ 1A quanh co qua triền núi này, vượt qua đồi núi khác nhau. Hai bên đường, trên sườn đèo “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” với đủ các loại cây rừng to, nhỏ khác nhau…
Thuở xưa, dãy Hoành Sơn bao phủ bởi một tấm thảm rừng xanh quanh năm. Nơi đây là tổ ấm của nhiều loài động vật hoang dã như voi, hổ, tê giác, hươu, nai, gà lôi, công, trĩ…
Dừng chân trên đỉnh đèo Ngang, chúng ta có thể tận hưởng cái nhìn xa tới Biển Đông xanh biếc. Mũi Rồng, Vũng Chùa, Hòn Én, Hòn La và những bãi đá lớn, rạn san hô ngầm… nhấp nhô theo nhịp sóng vỗ bờ ngày đêm.
Thuyền câu, thuyền lưới bình yên giữ neo đánh bắt cá tôm. Dưới chân đèo, một số suối, con sông nhỏ uốn khúc quanh co bên ruộng lúa, nương khoai. Thấp thoáng sau hàng dừa, rặng phi lao là những mái ngói đỏ tươi, mái tranh sẫm màu của bà con làng chài, xóm núi.
Đèo Ngang với người xưa là một vùng đất hiểm nguy và từng được biết đến như “phên giậu”, là “bức tường thành” phía Nam của nước Đại Việt. Vùng núi này từng là biên giới tự nhiên được người Việt và người Chăm chọn làm ranh giới giữa hai nước.
Vì thế, lũy Hoàn Vương ở cực bắc nước Chiêm Thành đã được xây dựng. Đây cũng là nơi đóng đồn lũy của quan quân chúa Trịnh trong giai đoạn Trịnh – Nguyễn tranh hồi thế kỷ 17.

Ngày nay, khi thăm cảnh đèo Ngang, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều dấu tích lịch sử và di tích văn hóa của một thời đã qua.
Đỉnh đèo vẫn giữ nguyên cổ quan lớn mang tên “Hoành Sơn quan”, một kiến trúc đẹp được xây dựng trong triều vua Minh Mạng (1820-1840) kèm theo những phần còn lại của hai bức tường thành cao chạy theo hai hướng: về Trường Sơn và ra Biển Đông.
Ngoài ra, nơi này còn chứa đựng những đoạn thành đá và hầm đất vuông vức, được gọi là “thành Ông Ninh”, “hầm Ông Ninh” theo tước hiệu của Ninh quận công Trịnh Toàn – võ tướng của chúa Trịnh.
Hai mái đèo ở phía bắc và phía nam đều có miếu, đền thờ Bà Chúa Liễu Hạnh, một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Mỗi năm, vào các dịp lễ tết, hàng ngàn người dân trong vùng đổ về đây làm lễ tế cúng Bà, mong nhận được phước lành cho con cháu.
Lăng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp dưới chân đèo Ngang gần đây đã trở thành điểm thu hút lớn với hàng vạn người từ ba miền Bắc – Trung – Nam nước ta.
Mọi người đến đây thường dừng chân tôn kính lăng mộ Đại tướng và nghía ngó cảnh đẹp của Vũng Chùa – Hòn Én. Nếu đi thêm chút nữa, sẽ đến cảng Hòn La – một cảng biển lớn, sâu và yên bình ở vùng biển bắc miền Trung.

Đèo Ngang không chỉ là một thắng cảnh, mà còn là một di tích lịch sử – văn hóa quan trọng, nó không chỉ thuộc về một vùng quê mà còn thuộc về cả nước ta. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, học giả thế kỷ 16, từng đánh giá đèo Ngang là nơi “vạn đại dung thân”.
Con đường trải đá vượt qua “Hoành Sơn quan” thuở xưa và quốc lộ 1A sau này đã chứng kiến những dấu chân vĩ nhân nổi tiếng từ Lý Thường Kiệt, Lê Thánh Tông, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn… đến Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Chí Minh…
Nhiều thi sĩ xưa đã sáng tác những bài thơ và tác phẩm về vẻ đẹp của đèo, chắc chắn được truyền cảm hứng từ cảnh sắc hùng vĩ của núi sông, biển cả ở đây. Trong số đó, bài “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất và được tỏa sáng nhất.
Theo Trần Hoàng/Tuổi Trẻ
***
Tham khảo: Cẩm nang du lịch Mytour.com
Mytour.comNgày 28 tháng 5 năm 2018