Chu trình (tiếng Trung: 周延) hay tính chu trình là một khái niệm trong logic học chưa được thống nhất trong nhiều tài liệu hiện nay, thuộc lĩnh vực triết học khoa học. Một số tác giả gọi là 'chu trình', trong khi một số khác gọi là 'toàn diện'. Tính chu trình của các thuật ngữ trong phán đoán đơn là một chủ đề quan trọng và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Tên gọi
Theo các tác giả S.N. Vinơgơrađốp và A.F. Kuzơmin, “Khi đối tượng mà chủ từ hoặc tân từ đại diện không phải toàn bộ loại đối tượng, mà chỉ là một phần của loại đó, chúng ta gọi đó là ngoại diên không đầy đủ. Ngược lại, khi chủ từ đại diện cho toàn bộ loại đối tượng, chúng ta gọi đó là ngoại diên đầy đủ.”
Dựa trên cách phân chia của S.N. Vinơgơrađốp và A.F. Kuzơmin, bảng dưới đây thể hiện tính chu trình của các phán đoán đơn.
| A: Mọi S là P | S+ | P- khi ngoại diên của P rộng hơn ngoại diên của S. |
| S+ | P+ khi ngoại diên của P bằng ngoại diên của S. | |
| I: Một số S là P | S- | P- khi ngoại diên của P rộng hơn ngoại diên của S. |
| S- | P+ khi ngoại diên của P nằm trong ngoại diên của S. | |
| E: Mọi S không là P | S+ | P+ |
| O: Một số S không là P | S- | P không xác định |
Khác với quan điểm của S.N. Vinơgơrađốp và A.F. Kuzơmin, Đ.P. Gorky cho rằng: “Một thuật ngữ được coi là chu trình nếu, dựa vào phân tích hình thức của phán đoán, chúng ta có thể xác định rằng, ngoại diên của nó hoàn toàn nằm trong hoặc hoàn toàn nằm ngoài ngoại diên của một thuật ngữ khác. Thuật ngữ không chu trình nếu từ phân tích hình thức của phán đoán, ngoại diên của nó chỉ một phần nằm trong hoặc nằm ngoài ngoại diên của thuật ngữ khác.” Dựa trên quan điểm này của Đ.P. Gorky, tính chu trình của các thuật ngữ trong các phán đoán đơn được xác định như sau:
| A: Mọi S là P | S+ và P- |
| E: Mọi S không là P | S+ và P+ |
| I: Một số S không là P | S- và P- |
| O: Một số S không là P | S- và P+ |
Khác với cách hiểu về chu trình được đề cập trong các sách logic học trước đó, trong Logic học của E.A. Khơmencô, việc xác định tính chu trình được gọi là 'phân chia danh từ'. E.A. Khơmencô định nghĩa phân chia danh từ như sau: “Một danh từ được coi là phân chia khi trong một phán đoán, danh từ ấy đại diện cho ngoại diên đầy đủ. Nói cách khác, danh từ được phân chia nếu ý nghĩa của nó liên quan đến toàn bộ lớp đối tượng. Ngược lại, nếu ý nghĩa của danh từ chỉ liên quan đến một phần của ngoại diên, thì danh từ không được coi là phân chia.” E.A. Khơmencô đã chỉ ra 7 trường hợp cụ thể của tính chu trình tương tự như A.F. Kuzơmin. Tuy nhiên, việc coi tính chu trình của khái niệm là 'phân chia danh từ' là một sai lầm cơ bản, vì thứ nhất, nội dung 'phân chia danh từ' không thuộc về phán đoán; thứ hai, tính chu trình không phải là phân chia khái niệm.
Trong Logic vui, tác giả Nguyễn Văn Trấn không sử dụng thuật ngữ chu trình, mà thay vào đó dùng các thuật ngữ “đầy đủ” và “không đầy đủ”. Ông giải thích: “Trong phán đoán, nếu chủ từ hoặc tân từ chỉ một số đối tượng hoặc không bao quát toàn bộ ngoại diên của đối tượng, thì ta gọi đó là không đầy đủ.” Ông khái quát về tính “đầy đủ” và “không đầy đủ” của các thuật ngữ trong các phán đoán A, E, I, O như sau: “Trong phán đoán khẳng định A, I, tân từ là không đầy đủ; trong phán đoán E, O, tân từ là đầy đủ.” Do đó, tác giả Nguyễn Văn Trấn gián tiếp thừa nhận 4 trường hợp chu trình tương ứng với 4 phán đoán A, E, I, O, tương tự như cách ông đã viết trong Mấy bài nói chuyện về logic. cách đây 30 năm.
Theo Logic học của Tô Duy Hợp và Nguyễn Anh Tuấn, “Trong phán đoán, một thuật ngữ được coi là chu trình khi toàn bộ các đối tượng thuộc ngoại diên của nó được xem xét trong mối liên hệ với thuật ngữ còn lại. Một thuật ngữ được coi là không chu trình nếu chỉ có một phần của ngoại diên của nó liên hệ với thuật ngữ còn lại trong phán đoán.” Hai tác giả cũng xác định tính chu trình của các khái niệm thành 7 trường hợp. Trong định nghĩa trên, cần làm rõ cụm từ “xem xét trong mối liên hệ với thuật ngữ còn lại.”
Đặc biệt, trong Giáo trình logic hình thức (dùng cho sinh viên khoa Luật) của tác giả Bùi Thanh Quất và Nguyễn Tuấn Chi, nội dung về tính chu trình của các khái niệm trong phán đoán đơn không được đề cập.
Thuật ngữ 'chu diên' (周延) là một từ ghép Hán - Việt, bao gồm hai phần chu và diên. Trong tiếng Hán, từ chu có nhiều nghĩa, trong đó có ý nghĩa quan trọng là toàn bộ, rộng khắp, tất cả. Từ diên chỉ phạm vi hoặc giới hạn, tức là ngoại diên. Tuy nhiên, trong tiếng Anh, tính chu diên của thuật ngữ S và P trong phán đoán được gọi là distribution, mang nghĩa phân bổ, phân phối hoặc sắp xếp.
Khái niệm
Chu diên là một khái niệm trong Logic học, dùng để chỉ phạm vi của chủ từ và vị từ trong phán đoán. Nếu phán đoán bao gồm toàn bộ các đối tượng của chủ từ (S) hoặc toàn bộ các đối tượng của vị từ (P), thì S hoặc P được gọi là có ngoại diên đầy đủ (chu diên).
Ngược lại, nếu phán đoán không bao gồm toàn bộ các đối tượng của chủ từ (S) hoặc không bao gồm toàn bộ các đối tượng của vị từ (P), thì S hoặc P được coi là có ngoại diên không đầy đủ (không chu diên). Ở đây, ngoại diên chỉ toàn bộ các đối tượng có bản chất giống như khái niệm phản ánh.
Các dạng phán đoán
- Phán đoán khẳng định toàn diện (phán đoán A)
- Phán đoán khẳng định một phần (phán đoán I)
- Phán đoán phủ định toàn diện (phán đoán E)
- Phán đoán phủ định một phần (phán đoán O)
Các liên kết bên ngoài
- Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
