Gần đây, ở các nước phương Tây, chủ đề về “hội chứng lắc ở trẻ em” đã trở nên rất phổ biến. Thống kê cho thấy mỗi năm ở Mỹ có khoảng 1500 trẻ mắc phải hội chứng này và có đến 25% số trẻ này tử vong do những tổn thương mà hội chứng gây ra. Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với trẻ dưới 1 tuổi, đặc biệt là ở những bé từ 2 – 4 tháng tuổi, tuy nhiên cũng đã có trẻ 5 tuổi bị ảnh hưởng.
Hội chứng lắc ở trẻ em là gì?
Hội chứng lắc ở trẻ em (Shaken Baby Syndrome – SBS) còn được biết đến với tên gọi khác là chấn thương đầu do bạo lực (Abusive Head Trauma), là một tình trạng gây ra khi bé bị lắc mạnh dẽo và gây ra tổn thương đầu và não. Trong trường hợp này, xương sọ mềm và dẻo của trẻ không thể chịu đựng được lực lượng và sẽ truyền nén vào não. Não, không thể di chuyển đồng đều, có thể va chạm với xương sọ, gây ra các tổn thương, tăng áp lực, sưng, chảy máu trong não. Các mạch máu lớn chạy dọc theo bên ngoài não cũng rất mỏng, dễ bị rách, gây ra chảy máu nguy hiểm cho bé.

Khi đó xương sọ mềm và dẻo của trẻ không chịu được những lực này sẽ chuyển lực tới não. Não không di chuyển đồng bộ có thể gây ra va đập với xương sọ làm dập não, tăng áp lực, phù, chảy máu trong não. Các tĩnh mạch lớn dọc theo phía ngoài não cũng rất mỏng mạnh nên dẽ rách gây ra chảy máu nguy hiểm cho trẻ.
Các chuyên gia y tế Hàn Quốc nghiên cứu cho biết những tổn thương có thể xảy ra với trẻ chỉ với 5 giây rung lắc, nếu rung lắc mạnh thì sẽ gây ra những tổn thương não vĩnh viễn ở trẻ.
2. Những Hậu quả Khôn Lường khi cha mẹ rung lắc trẻ

Không thể phủ nhận rằng việc tung – đỡ, rung lắc khiến trẻ thêm thích thú, dễ ngủ, nhanh nín nhưng lại để lại những di chứng nặng nề như: chảy máu võng mạc, giảm thị lực hoặc mù, giập não, tăng áp lực, phù, chảy máu não, chậm phát triển trí tuệ, khả năng nhận thức kém, mất khả năng nói, gây ra các chấn thương ở cổ, đầu, cột sống do trẻ va đập với các vật xung quanh nhà như quạt trần, thành giường… nguy hại nhất là có thể gây tử vong.
3. Biểu hiện của căn bệnh

Tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bệnh sẽ có những dấu hiệu khác nhau:
- Mắt trẻ mơ màng, ngủ gà ngủ gật, trẻ giảm sự linh hoạt, không mỉm cười.
- Trẻ co giật, nôn mửa, không thấy rõ,
- Trẻ ăn, bú khó, nôn không rõ lý do,
- Trẻ khó thở, ngừng thở, tím tái hoặc co giật,
- Da xanh tái, nhìn thấy rõ nhất ở vùng trán,
- Những dấu hiệu cho thấy chấn thương cổ, sưng nề, cứng cổ, nghiêng về một bên,
Nếu thấy có dấu hiệu bất thường cần đưa trẻ đi khám ngay.

4. Phương pháp Phòng ngừa
- Cần ngay lập tức bỏ các thói quen sau:
- Không đung đưa võng, nôi mạnh, hoặc bế trẻ nằm ngửa và lắc lư để trẻ dễ dàng đi vào giấc ngủ hoặc giảm khóc.
- Tránh thay đổi tư thế của trẻ một cách đột ngột, như bế trẻ từ tư thế nằm lên thẳng đứng hoặc cắp nách nâng lên cao.
- Không nên tung – hứng trẻ lên cao hoặc để trẻ lên chân chơi trò máy bay - Tránh tát vào mặt bé
- Không lật người bé: Khi bé đang ngồi trên vai/đùi người lớn, tránh để trẻ lật người/lộn người ra sau.
- Không nên rung lắc trẻ trong bất kỳ tình huống nào, dù là khi vui vẻ hay tức giận
- Khi di chuyển trẻ, hãy giữ cổ của bé ở tư thế cố định
- Giữ vững đầu của bé khi di chuyển trên xe ô tô
- Nên đưa con đi khám sức khỏe định kỳ để kiểm soát tình trạng sức khỏe của bé.
