1. Bài soạn số 1
2. Bài soạn số 2
Chuẩn bị bài học về sự trong sáng của Tiếng Việt, ngắn 1
Trả lời:
Câu hỏi 2: Đoạn văn của Chế Lan Viên đã thiếu dấu câu. Hãy sửa lại dấu câu ở những vị trí phù hợp để bảo đảm tính sáng sủa của đoạn văn (SGK Ngữ Văn tập 1_tr.34)
Đoạn văn sau khi sửa dấu như sau:
Tôi đã lấy ví dụ về một con sông. Con sông không chỉ trôi chảy mà còn phải tiếp nhận (dọc đường đi của mình) những dòng nước khác. Ngôn ngữ cũng vậy, mặt một phải giữ bản sắc cố hữu của dân tộc nhưng không được phép bỏ qua, từ chối những gì mà thời đại đem lại.
Câu hỏi 3: Đánh giá việc sử dụng từ nước ngoài trong trường hợp sau (SGK Ngữ Văn tập 1 tr.34). Hãy thay thế những từ mà bạn cho là lạm dụng bằng từ tiếng Việt tương ứng.
Trả lời:
- Đánh giá: lạm dụng, phụ thuộc vào từ nước ngoài (tiếng Anh).
- Các từ “lạm dụng' là: file, hacker.
- Thay thế lần lượt bằng các từ: tập tin, tin tặc, kẻ trộm dữ liệu máy tính...
Chuẩn bị bài học về sự trong sáng của Tiếng Việt, ngắn 2
A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tính trong sáng của ngôn ngữ Việt
a) - Ngôn ngữ Việt có một hệ thống chuẩn mực, quy tắc rõ ràng về phát âm, chữ viết, sử dụng từ ngữ, cấu trúc câu, cách viết văn...
Ví dụ: + Câu cá đi anh là đúng chuẩn mực.
+ Câu con Mobile đi anh là không đúng chuẩn mực.
- Hệ thống chuẩn mực và quy tắc này mang đậm bản sắc của ngôn ngữ Việt.
Ví dụ:
+ Trong tiếng Anh, tính từ thường đứng trước danh từ trong cách diễn đạt: A beautiful girl
+ Trong tiếng Việt, tính từ thường đứng sau danh từ: Một cô gái đẹp, không thể nói Một đẹp cô gái.
- Tính trong sáng của ngôn ngữ Việt được thể hiện qua việc tuân thủ các chuẩn mực và quy tắc đó.
- Sử dụng ngôn ngữ Việt đúng chuẩn mực, đúng quy tắc sẽ bảo đảm tính trong sáng của câu nói, đoạn văn.
b) - Tính trong sáng của ngôn ngữ Việt không chấp nhận việc sử dụng không cần thiết các yếu tố ngôn ngữ khác.
- Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ngôn ngữ Việt vẫn tiếp nhận những yếu tố tích cực từ ngôn ngữ khác. Việc vay mượn này là cần thiết.
- Ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Hán (chính trị, cách mạng,...), tiếng Pháp (oxi, cacbon, logíc, mô-đun...), tiếng Anh (sốc, chát,...), nhưng không chấp nhận những yếu tố lai căng, pha tạp, gây khó hiểu cho người nghe hoặc đọc.
c) – Tính trong sáng của ngôn ngữ Việt còn được thể hiện qua văn hoá, lịch sự của lời nói.
- Trong văn viết, việc sử dụng quá nhiều từ lóng, từ địa phương, hay từ ngữ thô tục có thể làm mất đi tính trong sáng của ngôn ngữ Việt.
B. GIẢI ĐÁP CÂU HỎI, BÀI TẬP
Trong văn bản này, nhóm tác giả tạo ra một cảnh quan sống động về những nhân vật trong Truyện Kiều, với mỗi người đều được miêu tả rõ ràng và độc đáo.
So sánh ngôn ngữ với dòng sông, tác giả đã thể hiện sự phong phú, linh hoạt của ngôn ngữ trong việc tiếp nhận và phản ánh thực tế xã hội.
Trong văn bản này, tác giả đề cập đến sự sử dụng các từ nước ngoài và gợi ý cách thay thế chúng bằng từ ngữ tiếng Việt phù hợp.
Bốn bài văn này đã tổng hợp và trình bày một cách sáng tạo các khía cạnh về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.
Ngoài bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, các em nên khám phá thêm các bài soạn khác như Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội và Tuyên ngôn độc lập để củng cố kiến thức Ngữ Văn 12.
Trong chương trình Ngữ Văn 12, việc học bài Đàn ghi ta của Lor-ca là quan trọng, đòi hỏi sự chú ý và chuẩn bị kỹ lưỡng từ phía học sinh.
Ngoài nội dung đã đề cập, học sinh cũng nên nghiên cứu phần Nghị luận xã hội về lòng trung thực để đảm bảo hiểu biết sâu sắc trong bài học.
