Bao gồm nội dung ôn tập và bài tập vận dụng
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
I. Phần đọc hiểu
1. Tiểu thuyết và truyện ngắn
- Tiểu thuyết là một dạng văn xuôi có quy mô lớn, có nội dung phong phú, cốt truyện phức tạp; thường phản ánh nhiều sự việc, tình cảm; thường miêu tả nhiều nhân vật, nhiều mối quan hệ phức tạp, đa dạng tâm trạng.
- Truyện ngắn
+ Là một loại hình văn tự sự với quy mô nhỏ, truyện ngắn thân thuộc với các dạng truyện dân gian như truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cười hoặc thậm chí giống với các bài kí ngắn. Tuy nhiên, truyện ngắn về hình thức lại gần gũi với tiểu thuyết hơn vì nó tái hiện cuộc sống hiện đại.
+ Về nội dung, truyện ngắn có đa dạng thể loại, khám phá hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống con người như: đời sống cá nhân, sử thi nhưng điều quan trọng và đặc biệt là nội dung ngắn gọn, tóm tắt.
+ Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nó có thể kể về cuộc sống hoặc một sự kiện trong cuộc sống của nhân vật, nhưng điều quan trọng không phải là số lượng sự kiện, số trang mà là cách tác giả nhìn nhận cuộc sống, nhân vật.
2. Thơ bốn chữ, năm chữ
- Loại hình: Thơ bốn chữ và thơ năm chữ được đặt tên dựa trên số từ (chữ) trong mỗi dòng thơ. Số lượng dòng thơ không bị giới hạn. Bài thơ bốn chữ và năm chữ có thể có hoặc không chia khổ.
- Cách ghép vần trong thơ bốn chữ và thơ năm chữ: vần thường được đặt ở cuối dòng, gọi là vần chân. Vần có thể ghép liên tục (vần liền) hoặc cách xa nhau (vần cách), cũng như có thể kết hợp nhiều kiểu ghép vần trong một bài thơ (vần hỗn hợp),...
- Thơ bốn chữ thường sử dụng nhịp 2/2, thơ năm chữ thường sử dụng nhịp 2/3 hoặc 3/2. Tuy nhiên, nhịp thơ cũng có thể linh hoạt, phù hợp với tâm trạng, cảm xúc được thể hiện trong bài thơ.
- Thơ bốn chữ và thơ năm chữ gần gũi với đồng dao, vè, phù hợp với việc kể chuyện, hình ảnh thơ thường gần gũi, dễ hiểu.
3. Truyện khoa học viễn tưởng
- Là các tác phẩm văn học mà tác giả sáng tạo, tưởng tượng dựa trên kiến thức và công nghệ hiện đại. Truyện khoa học viễn tưởng ít khi chứa các yếu tố siêu nhiên, thần kỳ, nhưng luôn dựa trên kiến thức hoặc lý thuyết khoa học thời điểm tác phẩm được sáng tác
- Đề tài của truyện khoa học viễn tưởng thường liên quan đến các lĩnh vực khoa học
- Các sự kiện trong truyện thường xuất phát từ những sự kiện có thật
- Tình huống trong truyện thường đột ngột, bất ngờ, có tính chất ly kỳ, mạo hiểm,…
- Nhân vật trong truyện khoa học viễn tưởng thường là những cá nhân sáng tạo trong các lĩnh vực mà tác phẩm đề cập
- Bối cảnh trong truyện khoa học viễn tưởng thường phản ánh đề tài của truyện
4. Nghị luận văn học
Mục đích của văn bản nghị luận văn học là thuyết phục độc giả về một vấn đề văn học. Nội dung bài nghị luận thường tập trung vào việc phân tích vẻ đẹp nội dung hoặc sự độc đáo về hình thức của tác phẩm văn học
5. Văn bản thông tin
- Mục đích chính của văn bản thông tin là truyền đạt thông tin một cách khách quan và trung thực. Người đọc hoặc người nghe có thể hiểu chính xác những gì được mô tả và giới thiệu trong văn bản này. Điều này đòi hỏi người viết phải sử dụng ngôn từ rõ ràng, logic và tránh sử dụng yếu tố hư cấu hay tưởng tượng.
- Thông tin trong văn bản có thể được tổ chức theo nhiều cách khác nhau. Một số cách tổ chức thông tin phổ biến bao gồm: theo nguyên nhân-kết quả, theo trật tự thời gian, theo so sánh và phân loại, và theo vấn đề và giải pháp. Cách tổ chức thông tin phụ thuộc vào mục đích và đối tượng của văn bản.
2. Phần tiếng Việt
a. Từ ngữ địa phương
b. Số từ và phó từ
3. Phần viết văn
a. Viết văn kể về một sự việc thực tế liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử
b. Viết đoạn văn ghi lại cảm nhận sau khi đọc một bài thơ bốn chữ, năm chữ
c. Viết văn biểu cảm về một con người hoặc một sự việc
d. Viết văn phân tích đặc điểm của nhân vật trong một tác phẩm văn học
e. Viết văn thuyết minh về các quy tắc, luật lệ trong một hoạt động hoặc trò chơi
B. Bài tập
1. Phần đọc và hiểu
*Yêu cầu
Văn bản Người đàn ông cô độc giữa rừng
Câu 1: Nội dung chính của văn bản 'Người đàn ông cô độc giữa rừng' là gì?
A. Cuộc gặp gỡ của tiểu con An với chú Võ Tòng
B. Cuộc giao tranh với hổ của Võ Tòng
C. Cuộc gặp gỡ của An với ông Hai bán rắn
D. Hành trình lấy mật trong rừng U Minh của tiểu con An, Cò
Câu 2: Đoạn trích 'Người đàn ông cô độc giữa rừng' đã giúp em hiểu thêm điều gì?
A. Phong cảnh thiên nhiên đất rừng U Minh
B. Phong tục tập quán Nam Bộ
C. Văn hóa ẩm thực Nam Bộ
D. Đặc điểm tính cách của con người nơi đất rừng U Minh
Câu 3: Nhan đề đoạn trích gợi cho em suy nghĩ gì?
A. Gợi suy nghĩ về một người đàn ông cô đơn, sống một mình trong khu rừng mênh mông
B. Gợi suy nghĩ về một người đàn ông bị xã hội xa lánh phải vào rừng sống một mình
C. Gợi suy nghĩ về một người đàn ông phạm tội phải trốn vào rừng sống một mình
D. Gợi suy nghĩ về một người chiến sĩ cách mạng ẩn náu trong rừng
Văn bản Buổi học cuối cùng
Câu 4: Buổi học cuối cùng thuộc thể loại nào?
A. Tiểu thuyết
B. Tùy bút
C. Truyện ngắn
D. Tản văn
Câu 5: Em hiểu như thế nào về nội dung Buổi học cuối cùng?
A. Buổi học cuối cùng của một học kỳ
B. Buổi học cuối cùng của một năm học
C. Buổi học cuối cùng của môn tiếng Pháp
D. Buổi học cuối cùng của cậu bé Phrăng trước khi chuyển đến ngôi trường mới
Văn bản Mẹ
Câu 6: Bài thơ Mẹ viết về điều gì?
A. Viết về mẹ và sự già đi của mẹ theo năm tháng
B. Viết về những năm tháng tận tảo của người mẹ
C. Viết về những tháng ngày gian khó của người mẹ chăm sóc cháu
D. Viết về người mẹ phải đề lại đứa con cho họ hàng đi thảo phương câu thực
Câu 7: Bài thơ Mẹ mượn hình ảnh loài cây nào để khắc hoạ hình ảnh người mẹ?
A. Cây tre
B. Cây vú sữa
C. Cây cau
D. Cây bàng
Văn bản Những người đàn ông
Câu 8: Những người đàn ông trong xã hội cũ trở nên thất thế và bị gạt ra lề cuộc đời khi nào?
A. Đã qua tuổi già, không còn đủ sức khỏe để làm việc
B. Khi tranh vẽ và thơ đối không còn được mọi người ưa thích
C. Khi chế độ thi cử phong kiến bị bãi bỏ
D. Khi các trường học mọc lên nhiều và chữ quốc ngữ trở nên phổ biến trong nhân dân
Câu 9: Hai câu thơ: “Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bày” nói lên điều gì?
A. Người đàn ông rất tài hoa
B. Ông đồ viết văn rất tài
C. Ông đồ có bút pháp, viết câu đôi rất đẹp
D. Ông đồ có nét chữ đẹp
Văn bản Tiếng gà trưa
Câu 10: Tình cảm, cảm xúc được nhân vật trữ tình thể hiện trong bài thơ là tình cảm gì?
A. Hồi tưởng về tuổi thơ, kỷ niệm về tuổi thơ
B. Tình yêu quê hương, đất nước
C. Tình thân ba và cháu
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 11: Từ “chắt chiu” trong câu “Dành từng quả chắt chiu” có ý nghĩa gì?
A. Tiết kiệm, cẩn thận
B. Bảo quản, chăm sóc
C. Bảo quản, chăm sóc
D. Duy trì cẩn thận
Văn bản Bạch tuộc
Câu 12: Trong văn bản Bạch tuộc, câu chuyện kể về sự kiện gì?
A. Sự kiện phi hành gia tàu Hơ-mét gặp một trận bão và Mac Oát-ni suýt mất mạng, anh phải đấu tranh với vết thương và môi trường khắc nghiệt để sống sót
B. Kể về ý định chấm dứt chiến tranh của viên trung sĩ bằng cách hủy hoại tất cả loại vũ khí, xe tăng
C. Sự kiện tàu No-ti-lốt gặp và đối đầu với những con quái vật bạch tuộc khổng lồ ở quần đảo Lu-cai
D. Hành trình khám phá nhà máy sản xuất sô cô la bên trong nhà máy của năm đứa trẻ và chín người lớn
Câu 13: Trong văn bản Bạch tuộc, từ “giáp chiến” có nghĩa là gì?
A. Là sắp sửa giao tranh
B. Là tấn công một cách bất ngờ
C. Là cách đánh lúc ẩn lúc hiện, khi ở đây, khi ở đó
D. Là tấn công hai bên sườn của đối phương
Văn bản Chất làm gỉ
Câu 14: Trong văn bản Chất làm gỉ, cuộc trò chuyện diễn ra giữa ai?
A. Viên đại tá – Người gác cổng
B. Viên đại tá – Viên trung sĩ
C. Viên trung sĩ – Người gác cổng
D.2 viên trung sĩ
Văn bản Thiên nhiên và con người trong truyện Đất rừng phương Nam
Câu 15: Trong văn bản Đất rừng phương Nam, nội dung tập trung vào vấn đề gì?
A. Thiên nhiên và con người
B. Thiên nhiên và động vật
C. Con người và loài vật
D. Con người và loài vật
Câu 16: Câu văn nào trong văn bản đưa ra đánh giá tổng quan về truyện Đất rừng phương Nam?
A. Cùng với thiên nhiên được Đoàn Giỏi vẽ với những màu sắc lộng lẫy, cuồn cuộn, tràn trề sức sống là những con người Nam Bộ với những nét sắc sảo lạ lùng.
B. Nhân vật trong Đất rừng phương Nam có nhiều tầng lớp, nhiều ngành nghề như một xã hội thu nhỏ, hoạt động suốt hai triều sông vào rừng U Minh, xuống tận mũi Cà Mau
C. Truyện Đất rừng phương Nam có cấu trúc chương hồi kiểu truyền thống: không gian, thời gian rạch ròi, nhân vật thiện ác, trắng đen tách bạch và bộc lộ qua hành động, hình dáng, ngôn ngữ
D. Có thể nói, Đất rừng phương Nam đã nói được cái tinh túy của hồn đất, hồn người một vùng châu thổ Cửu Long Giang
Văn bản Vẻ đẹp của bài thơ Tiếng gà trưa
Câu 17: Theo Đinh Trọng Lạc, Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh khác với tiếng gà Ò…oó…o của Trần Đăng Khoa ở điểm nào?
A. Mang giá trị nghệ thuật hơn
B. Liên tưởng sâu sắc hơn
C. Lăng động làm người ta xao xuyến, bồi hồi
D. Đơn giản, dễ hiểu hơn
Văn bản Ca Huế
Câu 18: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
A. Tự sự
B. Miêu tả
C. Nghị luận
D. Thuyết minh
Văn bản Hội thi thổi cơm
Câu 19: Văn bản Hội thi thổi cơm thuộc thể loại nào?
A. Văn bản nghị luận
B. Văn bản thông tin
C. Tiểu thuyết
D. Thơ
Văn bản Tính cách độc đáo của vùng đất Bắc Giang
Câu 20: Trong văn bản, cộng đồng mong muốn truyền đi điều gì thông qua cuộc thi đấu?
A. Niềm tin vào sự công bằng, đạo lý
B. Hy vọng 'mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu'
C. Niềm tin vào anh hùng bảo vệ quê hương
D.Thể hiện sức mạnh và phẩm chất của nam nhi trong cộng đồng
2. Phần ngôn ngữ quốc ngữ
a. Từ ngữ địa phương
Câu 1: Ý nghĩa của thuật ngữ địa phương là gì?
A.Là những từ ngữ mà mọi người trong cộng đồng đều biết và hiểu
B.Là từ ngữ chỉ được sử dụng ở một (một số) điểm địa phương nhất định
C.Là từ ngữ chỉ được sử dụng duy nhất ở một điểm địa phương
D.Là từ ngữ ít người biết đến
Câu 2: Các từ in đậm trong đoạn thơ sau chủ yếu ở vùng miền nào?
Đồng chí mô nhớ nữa
Kể chuyện Bình – Trị - Thiên,
Cho bầy mình nghe ví
Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí
- Thưa trong nơi này vô cùng gian khổ
Đồng bào ta phải kháng chiến ra trước
A.Miền Bắc
B.Miền Nam
C.Đây là từ ngữ phổ biến
D.Miền Trung
Câu 3: Trong những trường hợp dưới đây, trường hợp nào được sử dụng từ địa phương?
A.Khi viết đơn từ, báo cáo gửi thầy cô
B.Khi nói chuyện với người nước ngoài biết tiếng Việt
C.Người nói chuyện với mình là người ở vùng miền khác
D.Người nói chuyện với mình là người cùng vùng miền
Câu 4: Những từ ngữ ba, má, bạc hà, chả lụa thuộc từ ngữ vùng miền nào?
A.Từ ngữ địa phương Bắc Bộ
B.Từ ngữ địa phương Trung Bộ
C.Từ ngữ địa phương Nam Bộ
D.Từ ngữ toàn dân
Câu 5: Nhận xét nào không nói lên mục đích của việc sử dụng các từ địa phương trong tác phẩm văn học?
A.Để làm nổi bật màu sắc địa phương cho câu chuyện
B.Để làm nổi bật tính cách nhân vật
C.Để thể hiện sự hiểu biết của tác giả về địa phương đó
D.Để làm nổi bật tính cách nhân vật
Câu 6: Khi sử dụng từ ngữ địa phương cần chú ý điều gì?
A.Không nên quá lạm dụng từ ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội
B.Không phải từ nào đối tượng giao tiếp cũng có thể hiểu được từ ngữ địa phương
C.Tùy hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp mà sử dụng từ ngữ địa phương
D.Tất cả đáp án trên
Câu 7: Cho hai đoạn thơ sau:
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo em rau măng vẫn sẵn sàng”
(Hồ Chí Minh, Tức cảnh Pác Bó)
“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Con rây vàng hạt, đầy sân nắng đào”
(Tố Hữu, Khi con tu hú)
Xác định từ ngữ toàn dân của hai từ “em, con”.
A.Sắn
B.Khoai
C.Ngô
D.Lúa mì
b. Số từ và trạng từ
Câu 8: Trong các câu sau, câu nào chứa số từ?
A.Tất cả các em học sinh khi đến trường đều phải mặc đồng phục theo quy định
B.Cô ấy đứng thứ nhất trong đợt thi khảo sát vừa rồi
C.Từng trang vở đều gợi lại những ký ức đẹp đẽ của thời học sinh
D.Những bông hoa ngoài vườn thật đẹp
Câu 9: Xác định câu không chứa số từ trong những câu sau:
A.Dân tộc Việt Nam là một.
B.Cô ấy đứng thứ nhất trong đợt thi khảo sát vừa rồi
C.Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
D.Những bông hoa ngoài vườn thật đẹp
Câu 10: Ý nghĩa của phó từ trong câu sau là gì?
“Đêm khuya cháu vẫn cứ thổn thức không sao ngủ được”
A.Chỉ sự phủ định
B.Chỉ sự tiếp diễn
C.Chỉ kết quả
D.Chỉ mức độ
3. Phần viết văn
a.Viết văn kể về một sự kiện có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử
Đề 1: Các bạn đã học và đọc nhiều câu chuyện lịch sử, hãy viết văn kể về một sự kiện liên quan đến một nhân vật hoặc sự kiện lịch sử mà bạn yêu thích
Đề 2: Bạn hãy đóng vai nhạc sĩ Văn Cao, viết văn kể lại sự ra đời của bài hát “Tiến quân ca”
b.Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ ngắn
Đề 1: Viết văn phản ánh cảm xúc của bạn sau khi đọc bài thơ Mẹ của Đỗ Trung Lai
Đề 2: Viết văn phản ánh cảm xúc của bạn sau khi đọc bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
Đề 3: Viết văn phản ánh cảm xúc của bạn sau khi đọc bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
c.Viết văn diễn đạt cảm xúc về một con người hoặc sự kiện
Đề 1: Viết văn thể hiện tâm trạng của bạn khi đối mặt với một sự kiện để lại ấn tượng sâu sắc.
d. Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật
Đề 1: Viết văn phân tích nhân vật An trong đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng của Đoàn Giỏi
Đề 2: Viết văn phân tích nhân vật thầy Ha – men trong văn bản Buổi học cuối cùng
Đề 3: Phân tích suy nghĩ của cậu bé Côn về câu chuyện tình sử Mị Châu – Trọng Thủy
e. Viết bài văn giải thích về quy tắc, luật lệ trong một hoạt động hay trò chơi
Đề 1: Dựa vào các văn bản đã học (Ca Huế, Hội thi thổi cơm, Những nét đặc sắc trên “đất vật” Bắc Giang), hãy viết văn giải thích về một số quy tắc, luật lệ cho một trong các hoạt động hay trò chơi đã được giới thiệu hoặc các hoạt động hay trò chơi tương tự của địa phương em
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
|
A |
D |
A |
C |
C |
A |
C |
C |
C |
D |
B |
C |
A |
B |
A |
D |
C |
D |
B |
B |
2. Phần tiếng Việt
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
|
B |
D |
D |
C |
C |
D |
C |
B |
D |
B |
3. Phần làm văn
a.Viết bài văn kể về một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử
Đề 1: Các em đã học và đọc nhiều câu chuyện lịch sử, hãy viết văn kể về một sự việc liên quan đến một nhân vật hoặc sự kiện lịch sử mà em yêu thích
Khi Trần Quốc Tuấn còn nhỏ, thân phụ ông với vua Trần Thái Tông, vốn là hai anh em trở nên bất hòa. Năm 1251, trước khi qua đời, Trần Liễu trăng trối với con trai rằng: 'Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ. Nếu không, nơi chín suối, cha không thể nhắm mắt!'. Trần Quốc Tuấn tuy gật đầu, nhưng ông không cho đó là điều phải mà luôn tìm mọi cách xóa bỏ mọi hiềm khích trong hoàng tộc.
Cuối năm 1284, giặc Nguyên - Mông sắp kéo đại binh sang xâm lược nước ta, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh. Từ Vạn Kiếp, Vương kéo quân mã về Thăng Long để cùng Triều đình bàn kế chống giặc.
Một hôm, Trần Quốc Tuấn mời Thái sư Thượng tướng quân Trần Quang Khải xuống chiếc thuyền đóng tại Đông Bộ Đầu để đàm đạo. Trần Quốc Tuấn đã sử dụng nước thơm để tắm cho Trần Quang Khải. Khi dội nước thơm lên người Thái sư, vị Tiết chế Quốc công nói:
- Cuối cùng, tôi được phục vụ Thái sư trong buổi tắm.
- Một niềm hạnh phúc lớn, tôi được Quốc công tắm cho.
Từ đó, sự hiềm khích giữa họ đã tan biến hoàn toàn.
Trong thời điểm đó, kẻ thù mạnh mẽ, chúng ta liệu nên 'đấu' hay là 'hòa'? Trần Quốc Tuấn đã yêu cầu Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông mời các cụ già cao tuổi nhất, uy tín nhất về Thăng Long để thảo luận về việc bảo vệ đất nước. Tại cung Diên Hồng, tiếng gọi 'Chiến đấu! Chiến đấu!' của các cụ già làm rung chuyển Kinh thành.
Trần Quốc Tuấn viết 'Bài học chiến đấu' và 'Tóm tắt chiến lược quân sự'. Các tướng sĩ say mê luyện tập bắn cung, đấu kiếm, và huấn luyện ngựa. Hang vạn chiến binh sẵn sàng với hai chữ 'Đoạt Quân' trên môi. Trong mùa hè năm 1285, quân xâm lược Nguyên - Mông đã bị đánh bại tan tác. Thành Đại La bị đánh sụp đổ bởi binh lính của chúng ta. Thoát Hoan phải trốn vào một ống đồng để tránh những viên tên nọc độc mới có thể thoát khỏi cái chết!
Đề 2: Hãy đóng vai nhạc sĩ Văn Cao, viết bài văn kể lại quá trình sáng tác bài hát “Tiến quân ca”
Bài hát Tiến quân ca là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của tôi. Nó ra đời trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt và đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của tôi.
Trong một thời kỳ khó khăn, tôi đã trải qua những thất vọng và mất mát. Cuộc sống của tôi chìm đắm trong tuyệt vọng và tận lực. Nhưng rồi, tôi gặp được anh Ph.D., một người bạn quý giá, và điều đó đã thay đổi cuộc đời tôi.
Anh Ph.D. giới thiệu tôi gặp Vũ Quý, một người theo dõi nghệ thuật của tôi. Buổi gặp gỡ đó đã khơi dậy niềm đam mê cách mạng trong tôi. Mặc dù tôi mong muốn tham gia vào cuộc chiến tranh như đồng đội, nhưng sứ mạng của tôi là sáng tác nghệ thuật.
Vào thời điểm đó, cách mạng chống Nhật đã cần một bài hát để truyền động viên. Mặc dù tôi đã sáng tác nhiều bài hát yêu nước, nhưng chưa từng viết về cách mạng. Tuy nhiên, tôi đã dùng trái tim đam mê để viết nên Tiến quân ca.
Anh Ph.D. là người đã chứng kiến quá trình sáng tác bài hát. Và anh Vũ Quý là người đầu tiên nghe bài hát. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi là người đầu tiên xướng ca khúc. Cả ba đều rất xúc động.
Tôi không ngờ rằng chỉ sau một thời gian ngắn, vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, Tiến quân ca được hàng nghìn người hòa nhịp cất tiếng hát trước Nhà hát Lớn. Trong một lúc, những tờ truyền đơn in Tiến quân ca được phát cho từng người trong hàng ngũ công chức dự mít tinh. Khi đó, tôi đứng lẫn trong đám đông trước cửa Nhà hát Lớn. Tôi đã nghe thấy giọng hát quen thuộc của anh bạn tôi - Ph. D. qua loa phát thanh. Lần thứ hai là ngày 19 tháng 8, hàng ngàn người và các em thiếu nhi cùng hát tiến quân ca. Sau này, khi bài hát “Tiến quân ca” được chọn làm Quốc ca chính thức của nước Việt Nam, tôi càng cảm thấy vinh dự và tự hào.
Bài hát “Tiến quân ca” ra đời trong thời đại lịch sử đất nước được đánh dấu bởi “một buổi bình minh mới” của dân tộc.
b.Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ, năm chữ
Đề 1: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ Mẹ của Đỗ Trung Lai
Bài thơ 'Mẹ' tác phẩm lồng ghép cảm xúc của người con khi nhận ra suy tàn của mẹ, tâm trạng xót xa thương cảm trước sự già cố, yếu đuối của mẹ. Thơ người mài mẹ như cau trước tuổi già, giáo rối bất lực trước buồn vui cuộc đời. Đây là một bài thơ nổi tiếng của Đỗ Trung Lai mang ý nghĩa sâu sắc về đời sống.
Nhân vật Ông Đồ trong bài thơ của Vữ Đình Liên gây ra sự xao xuyến, xót xa trong tâm hồn người đọc. Sự bị lãng quân bởi thời gian của ông làm cho người ta cảm thấy sâu lạc. Trong tâm hồn người, hình ảnh của ông vẫn in sâu, đưa người ta đến cảm giác thương yêu lớn lao.
Đề 2: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
Đề 3: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh mang ý nghĩa sâu sắc về quê hương, gia đình, xóm làng, thế nhưng lại gắn với tâm trạng cô đơn, xa láng của người lính ra trận. Bài thơ này được viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Khi tiếng gà trưa reo vang… gà mổ sống gà cầm trên vai. Tiếng gà trở thành âm thanh không thể nào quên của làng quê. Với người lính, âm thanh ấy mang lại sức mạnh tinh thần, hỗ trợ cho những bước chân mệt mỏi trên chiến trường. Tiếng gà trở thành một gỡ buồn cho trai lính khi bước chân đi qua. Âm thanh ấy làm anh hỏi hài về quê hương, về những năm tháng tuổi thỏ.
Gà mổ sống gà cầm trên vai
Nghe vang vang động chiếc nắng trưa
Nghe gợi lại những bàn chân mệt mỏi
Nghe gọi về nơi tuổi thơ
Khi đến câu thứ hai trong hai mươi sáu câu thơ, câu Tiếng gà trưa được nhắc lại ba lần, âm thanh ấy gợi lên bao kí ức đáng quý. Tiếng gà trưa vang vọng xa xôi, đưa người lính nhớ về ba thân yêu, chăm sóc từng quả trứng hồng. Những quả trứng hồng, đàn gà chật chội đông đúc. Ta như thấy rất nhiều gà, rất nhiều màu sắc và đàn gà:
Tiếng gà trưa
Ô rơm hồng những quả trứng
Kìa con gà mái mơ
Rải khắp hoa đốm trắng
Hỡi con gà mái vàng
Lông óng như ánh nắng
Trong bức tranh gà mà Xuân Quỳnh miêu tả rất đặc biệt: ổ rơm vàng lung linh những quả trứng hồng, con gà mái mơ có bộ lông kết hợp các màu trắng, đen, hồng... trứng nó giống như hình hoa văn mà người nghệ sĩ tạo ra: ánh vàng rực rỡ của con gà mái vàng, lông óng lên như màu nắng, bà cùng cháu vừa tung những hạt cơm, hạt gạo cho đàn gà ăn, quan sát những chú gà xinh đẹp đang nhặt thóc quanh sân. Cháu cùng bà đếm từng chú gà trong vườn nhà. Đó là những kí ức đáng nhớ của người cháu đang trên đường đi.
c.Viết bài văn biểu cảm về một con người hoặc sự việc
Đề 1: Viết bài văn diễn đạt cảm xúc về một sự việc để lại ấn tượng sâu sắc.
Giờ này tôi đã là một học sinh lớp bảy của trường Trung học cơ sở quý mến. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ những kỷ niệm của ngày nhập học đầu tiên.
Đó là một buổi sáng mùa thu tươi đẹp. Bầu trời cao xanh thẳm. Mẹ đưa tôi đến trường bằng chiếc xe đạp cũ. Hôm nay, tôi sẽ tham dự lễ khai giảng lần đầu tiên. Con đường đến trường đã quen thuộc, nhưng tôi lại cảm thấy xao xuyến, háo hức. Cuối cùng, cánh cổng trường cấp một cũng hiện ra trước mắt tôi. Tôi ngạc nhiên nhìn thấy ngôi trường hôm nay đã thay đổi. Các bạn học sinh lớp lớn hân hoan bước vào trường. Tôi được mẹ dẫn vào hàng ghế của lớp một. Xung quanh, bố mẹ các bạn thì thầm trò chuyện với con mình. Cô giáo chủ nhiệm lần lượt đưa chúng tôi vào vị trí ngồi của mình. Hôm nay, cô trông thật xinh đẹp trong bộ áo dài thướt tha. Nụ cười của cô khiến tôi cảm thấy ấm áp. Buổi lễ khai giảng diễn ra rất trang trọng. Tôi cảm thấy vui vẻ và tự hào vì mình là học sinh lớp Một. Lời phát biểu của hiệu trưởng đã kết thúc buổi lễ. Tiếng trống vang lên như lời chào mừng năm học mới đã đến.
Buổi lễ khai giảng đã để lại cho tôi một kỷ niệm đẹp không thể nào quên. Những cảm xúc trong sáng, hồn nhiên ấy, tôi luôn giữ nó trong một góc của trái tim mình, để luôn nhớ về nó. Ngày đầu tiên đi học.
d. Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật
Đề 1: Viết bài văn phân tích nhân vật An trong đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng của Đoàn Giỏi
Cuộc sống lưu lạc đã giúp An trưởng thành hơn nhưng An vẫn còn nhỏ nên em vẫn có những tính cách của một đứa trẻ. An ngoan ngoãn hiểu chuyện, sau khi được gia đình nhà tiếp nuôi An đã hoà nhập cùng gia đình.
Trong phần trước An đã có may mắn gặp chú Võ Tòng nên khi được tiếp nuôi cho đi thăm chú Võ Tòng, An đã rất hăm hở đi ngay. Trong toàn bộ tiểu thuyết An luôn thể hiện được sự tinh ý của mình. Để ý được từ những chi tiết nhỏ nhất. “Chúng tôi lặng lẽ bơi xuống đi rất lâu. Tới đã thấm mệt và bắt đầu buồn ngủ. Tiếp nuôi tôi nghe tôi ngáp, bảo tôi cứ ngủ đi, để một mình ông bơi cũng được. Tôi vừa đặt giẫm lên xuồng, chưa kịp chui vào nó thì đôi mắt đã dập lại rồi. Chắc tôi ngủ một giấc lâu lắm thì phải. Khi tôi mở mắt ra, thấy xuồng buộc lên một gốc cây tràm. Không biết tiếp nuôi tôi đi đâu. Nghe có tiếng người nói chuyện rì rầm bên bờ: “A! Thế là đến nhà chú Võ Tòng rồi!”. Tôi ngồi dậy, giục mắt trông lên, ánh lửa bếp từ trong một ngôi lều chiếu qua khung cửa mở, soi rõ hình nhưng khuôn gỗ xếp thành bậc thang dài xuống bến. Tôi bước ra khỏi xuồng, lần theo bậc gỗ mò lên. Bỗng nghe con vườn bạc má kêu “ché…ét, ché…ét” trong lều, và tiếng chú Võ Tòng nói: thằng bé của anh nó lên đấy!”.
An đối với chú Võ Tòng đã tự nhiên và nảy sinh cảm tình không có sự sợ hãi như lần đầu nữa. Khi gặp chú Võ Tòng và hiểu thêm về cuộc đời chú, em đã cảm thương con người chú. Yêu quý và đồng cảm với hoàn cảnh của chú. Qua đó ta cũng thấy được sự lương thiện của nhân vật An.
Đề 2: Viết bài văn phân tích nhân vật thầy Hà - men trong văn bản Buổi học cuối cùng
A. Mở bài
- Giới thiệu về tác phẩm và đoạn trích
- Nêu cảm nhận tổng quan về nhân vật
B. Thân bài
* Phân tích đặc điểm của nhân vật
- Là một giáo viên đầy nhiệt huyết, tận tâm với nghề
+ Dù là buổi học cuối cùng, thầy vẫn đứng trước lớp giảng bài như thường lệ
+ Thầy nhẹ nhàng, tận tình nhắc nhở học sinh
+ Thầy kiên nhẫn truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách đầy đủ
- Là một người yêu nước, đam mê với ngôn ngữ dân tộc
+ Thầy chia sẻ về vẻ đẹp của tiếng Pháp với học sinh của mình
+ Khi giao bài tập viết cho học sinh, thầy đã sẵn sàng những 'tờ giấy trắng sạch mới'
+ Nghe tiếng kèn của lính Pháp từ bên ngoài, thầy cảm thấy xúc động mạnh mẽ.
+ Với phấn viết trên bảng, thầy viết dòng chữ 'nước Pháp muôn năm', sau đó nâng tay ra hiệu kết thúc
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật
+ Sử dụng ngôi kể thứ nhất, việc tự nhận mình là 'tôi' giúp nhân vật thể hiện suy nghĩ, cảm xúc một cách chân thực và rõ ràng
+ Sử dụng nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo: miêu tả nhân vật qua trang phục, cử chỉ, hành động, và lời nói.
C. Kết bài
Đánh giá về nhân vật thầy Hamen.
Đề 3: Phân tích suy nghĩ của cậu bé Côn về câu chuyện tình sử Mị Châu – Trọng Thủy
Cậu bé Côn cùng cha và anh trai đi thăm bạn bè của cha, đi qua vùng đất Diễn Châu, mảnh đất nổi tiếng trong lịch sử với tên gọi Châu Diễn. Họ đến trước ngôi đền cổ kính có nhiều tòa từ trên đỉnh núi xuống tận chân núi. Ngôi đền gắn liền với câu chuyện tình sử Mị Châu - Trọng Thủy, với thành Cổ Loa, vua Thuận Phán. Qua lời kể của cụ Phó bảng, cậu bé Côn đã hiểu được câu chuyện lịch sử trong quá khứ và rút ra được những nhận định của riêng mình. Cậu nhận ra đó là câu chuyện tình sử hay tuyệt, một vua Triệu nham hiểm, một Mị Châu ruột đem ngoài da, một vua Thuận trọng chữ tín nhưng không phòng sự gian xảo, một vị vua công tư phân minh và không chịu khuất phục kẻ thù khi đã chém đầu con và tự nhảy xuống biển. Cậu bé Côn là cậu bé có khả năng nhận định sắc bén khi đã nhận xét về những nhân vật lịch sử, chỉ ra mặt đáng coi trọng và mặt cần phê phán của vua Thuận. Những lời nhận xét của cậu bé vừa hồn nhiên, đáng yêu vừa chắc chắn, đúng đắn, sâu sắc.
e. Viết bài văn thuyết minh về quy tắc, luật lệ trong một hoạt động hay trò chơi
Đề 1: Dựa vào các văn bản đã học (Ca Huế, Hội thi thổi cơm, Những nét đặc sắc trên 'đất vật' Bắc Giang), hãy viết bài văn thuyết minh về một số quy tắc, luật lệ cho một trong các hoạt động hay trò chơi đã được giới thiệu hoặc các hoạt động hay trò chơi tương tự của địa phương em
Lễ hội là tín ngưỡng văn hóa của mỗi dân tộc. Hầu như làng, xã nào cũng có lễ hội được tổ chức vào đầu xuân. Mọi người dân Thuận Thành, Bắc Ninh thường có câu ca:
Dù ai buôn đâu, bán đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Câu ca dao giống như một lời nhắc nhở cho các tín đồ Phật giáo, hãy nhớ về lễ hội Dâu được tổ chức vào đầu xuân hàng năm.
Hội Dâu diễn ra vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Chùa Dâu là một trong những ngôi chùa cổ nhất tại Việt Nam, được xây dựng từ những năm đầu của thế kỷ XV. Mặc dù đã có nhiều thời gian trôi qua, nhưng chùa Dâu vẫn giữ được những đặc điểm ban đầu từ khi được xây dựng. Hằng năm, chùa Dâu thu hút một lượng lớn tín đồ đến tham dự lễ hội, đặc biệt là vào dịp này. Trước ngày lễ, các nhà sửa sang chùa chiền với lòng nhiệt huyết. Ngay từ chiều mùng 7, đã có lễ rước các bà Dâu, bà Đậu, bà Đàn, bà Keo, được tạo ra từ một cây dâu theo truyền thuyết. Trong ngày chính của lễ hội, không khí trở nên rất sôi động và náo nhiệt. Mọi người đến đây với lòng thành kính, hy vọng nhận được sự an lành và ấm no từ đức Phật. Chùa có nhiều gian, điện, và đặc biệt là pho tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ với sự hoàn hảo về nghệ thuật, cùng với những tượng pho khác. Người ta đến đây không chỉ để thắp hương và cầu nguyện, mà còn để vui chơi, đón mừng mùa xuân. Trong lễ hội, có nhiều trò chơi như đu quay, hát quan họ, giao duyên dưới thuyền rồng với trang phục truyền thống. Khắp sân chùa đầy những hàng bán đồ cúng, nến hương, đồ chơi dân gian như sáo, trống, hoặc các loại hoa. Tất cả tạo nên một không khí ấm cúng và gần gũi. Mọi người quên hết mọi lo toan và căng thẳng trong cuộc sống để hướng về đức Phật và tâm hồn thanh tịnh. Khoảng 7 giờ sáng ngày 8/4, tiếng chiêng và trống cùng tiếng cúng tế vang lên, thể hiện sự tôn kính và lòng thành của người dân. Đặc biệt, trong lễ hội Dâu, có lễ thờ Tứ Pháp với sự tham gia của đội tế lễ tứ sắc. Hội diễn ra rất trang trọng và ấn tượng.
Sau khi các cụ hoàn thành lễ nghi, đoàn rước từ chùa Tổ bắt đầu quay về, được hàng đoàn người dân hướng dẫn. Người đi đầu cầm bình nước, người thứ hai dâng hương, tiếp theo là đoàn kiệu được các nam thanh niên lồng khiêng. Họ mặc những trang phục như quân tốt đỏ thời xưa, tiếp theo là các bà mặc áo nâu đội sớ. Người cầm nước vừa đi vừa vẩy cành trúc, vẩy nước vào những người xung quanh để mang lại sự may mắn và phước lành. Trong tâm niệm của người dân, ai được vẩy nước sẽ nhận được sự may mắn và phù hộ của Phật. Khi lễ hội kết thúc, mọi người về nhà thắp hương và hứa hẹn gặp lại trong năm sau. Điều đặc biệt là hầu như mỗi năm sau lễ hội, trời đều mưa, và người dân cho rằng đây là lễ tẩy chùa, một điều bí ẩn và huyền bí.
Lễ hội thể hiện sự tổ chức tinh tế, sự hòa nhập giữa làng xã và ý thức cộng đồng, thu hút du khách từ khắp nơi bằng những biểu diễn nghệ thuật và văn hóa đặc sắc, đa dạng. Đối với Bắc Ninh, nơi được coi là 'cố đô Phật giáo', lễ hội là cơ hội để thể hiện phẩm chất tinh hoa, sự duyên dáng và sự lịch lãm trong giao tiếp và văn minh. Là người con của vùng đất Bắc Ninh, tôi tự hào về di sản văn hóa của quê hương và tôi cam kết bảo vệ và giữ gìn những giá trị ấy, đặc biệt là những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc vào những ngày đầu năm mới.
