
Cỏ Dạ (Rumen hoặc Paunch) là một phần quan trọng trong hệ tiêu hóa của động vật nhai lại. Cấu trúc này chiếm phần lớn diện tích khoang bụng, khoảng 85-90% dung tích dạ dày và 69% bề mặt dạ dày. Cỏ Dạ có chức năng chính là lên men và tiêu hóa thức ăn, nơi vi sinh vật cộng sinh thực hiện quá trình phân giải. Đặc trưng của gia súc nhai lại là có bốn túi dạ dày, trong đó Cỏ Dạ là nơi chủ yếu để lên men thức ăn.
Đặc điểm nổi bật

Dạ cỏ hoạt động như một thùng lên men khổng lồ, nơi tiêu hóa và lên men thức ăn thô và tinh. Môi trường trong dạ cỏ rất lý tưởng cho vi sinh vật lên men yếm khí, với nhiệt độ ổn định. Khoảng 50-80% chất dinh dưỡng trong thức ăn được lên men tại đây, tạo ra axit béo bay hơi, sinh khối vi sinh vật và khí mêtan. Các phần không lên men và sinh khối vi sinh vật sau đó chuyển xuống các phần dưới của hệ tiêu hóa. Thức ăn sau khi được nuốt vào dạ cỏ sẽ được lên men, và những mẩu thức ăn chưa nhai kỹ sẽ được ợ lên để nhai lại.
Thức ăn sau khi được nhai lại và thấm nước bọt sẽ được nuốt trở lại dạ cỏ. Quá trình nhai lại diễn ra khoảng 5-6 lần mỗi ngày, mỗi lần kéo dài khoảng 50 phút. Nước bọt có tính kiềm giúp trung hòa axit trong dạ cỏ và làm ướt thức ăn, giúp quá trình nuốt và nhai dễ dàng hơn. Nước bọt của trâu bò được tiết ra liên tục và chứa các chất điện giải, urê, và phosphor, giúp điều chỉnh N và P trong dạ cỏ. Sự giảm tiết nước bọt có thể làm giảm khả năng đệm và làm giảm hiệu quả tiêu hóa thức ăn xơ. Sức khỏe dạ cỏ ảnh hưởng đến sản lượng sữa, khả năng sinh sản và sức khỏe tổng thể của bò.
Để chăn nuôi thành công, sức khỏe dạ cỏ phải được duy trì tối ưu, bao gồm pH dạ cỏ và lượng vi sinh vật có lợi. Các chỉ số sức khỏe dạ cỏ lý tưởng như pH từ 5.8 đến 6.8 và số lượng vi khuẩn hội sinh cao sẽ đảm bảo lượng protein vi khuẩn dồi dào. Kiểm soát độc tố nấm mốc là cần thiết vì chúng có thể ảnh hưởng đến số lượng vi sinh vật dạ cỏ. Độc tố nấm mốc có thể xuất hiện mà không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, vì vậy việc áp dụng các chiến lược quản lý rủi ro là rất quan trọng.
- McCabe, Bernadette K.; Antille, Diogenes L.; Birt, Henry W. G.; Spence, Jennifer E.; BFernana, Jamal M.; der Spek, Wilmer Bvan; Baillie, Craig P. (17–20 tháng 7 năm 2016). Nghiên cứu về Tiềm năng Phân bón của Dạ Cỏ Từ Nhà Máy Xử Lý Thịt. Hội nghị Quốc tế hàng năm của Hiệp hội Kỹ sư Nông nghiệp và Sinh học Mỹ 2016. Orlando, FL. doi:10.13031/aim.202460831. Paper No. 16-2460831.
- Cronjé, P.; E.A. Boomker (2000). Sinh lý học Gia súc Nhai lại: Tiêu hóa, Chuyển hóa, Tăng trưởng và Sinh sản. Wallingford, Oxfordshire, UK: CABI Publishing. ISBN 0-85199-463-6.
- Dijkstra, J.; J.M. Forbes; J. France (2005). Các Khía Cạnh Định Lượng của Tiêu hóa và Chuyển hóa ở Gia súc Nhai lại, Ấn bản lần thứ 2. Wallingford, Oxfordshire, UK: CABI Publishing. 736 trang. ISBN 0-85199-814-3.
- Hobson, P.N.; C.S. Stewart (1997). Hệ sinh thái Vi sinh vật trong Dạ Cỏ, Ấn bản lần thứ 2. New York: Springer. ISBN 0-7514-0366-0.
- Nagaraja, T. G.; Titgemeyer, E. C. (01-06-2007). 'Acidosis Dạ Cỏ ở Bò Thịt: Cái Nhìn Hiện Tại về Vi sinh vật và Dinh dưỡng'. Tạp chí Khoa học Sữa. Phụ lục Điện tử. 90: E17–E38. doi:10.3168/jds.2006-478. ISSN 0022-0302. PMID 17517750.
- Hernández, Joaquín; Benedito, José Luis; Abuelo, Angel; Castillo, Cristina (2014). 'Acidosis Dạ Cỏ ở Trang Trại: Từ Nguyên Nhân đến Phòng Ngừa'. Tạp chí Khoa học Thế giới. Truy cập 24-02-2020.
