Từ tháng 10, các quy định về tỷ lệ nội địa hóa ô tô, sau gần 20 năm, trong đó có quy định về mức độ phân tán của linh kiện ô tô nhập khẩu chính thức đã được hủy bỏ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 15-40% nhu cầu linh kiện cho sản xuất ô tô, phần còn lại phải nhập khẩu. Vậy có hay không tình trạng doanh nghiệp cố ý nhập khẩu xe nguyên chiếc dưới hình thức các linh kiện để hưởng lợi thuế? Việc kê khai nộp thuế sẽ như thế nào trong khi chờ đợi Nghị định thay thế?
Từ tháng 10 này, các quy định về phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với ô tô và mức độ phân tán của linh kiện ô tô nhập khẩu được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành chính thức đã được hủy bỏ. Việc này không gây ra thêm thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư và khoa học công nghệ, đồng thời, đảm bảo các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Tuy nhiên, gần đây, Bộ Tài chính đã đề xuất lùi thời hạn áp dụng quy định mới về xác định tỷ lệ nội địa hóa ô tô.
Những ưu đãi khi nhập khẩu linh kiện phân tán trước đây là để hỗ trợ cho 'Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020'. Hiện tại, về tỷ lệ nội địa hóa, theo Bộ Công Thương, trung bình mỗi chiếc xe mới chỉ có dưới 20% được sản xuất thực sự tại Việt Nam. Một sự thực khác là sự tham gia của các doanh nghiệp hỗ trợ sản xuất trong nước vẫn còn hạn chế, nguyên liệu đầu vào đa phần vẫn phải nhập khẩu.

Hình minh họa. Ảnh: tapchicokhi.com.vn
Ngành công nghiệp liên kết gia tăng
Ông Kiều Huỳnh Sơn, Giám đốc Công ty Thép Việt, chia sẻ: 'Rất nhiều nguyên liệu và linh kiện chúng tôi nhập từ Trung Quốc lên đến 50%, một số ngành lên đến 70%. Cố gắng duy trì nguồn cung, các doanh nghiệp trong nước và FDI tìm hiểu độ lớn thị trường để đầu tư'.
Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản cho rằng, mục tiêu trong những năm tới là các doanh nghiệp trong ngành có thể đáp ứng khoảng 65-70% nhu cầu nội địa nhưng thách thức lớn là khả năng liên kết.
Ông Hirai Shinji, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, nói: 'Kết nối quan trọng nhất là trong các khu công nghiệp. Xây dựng các khu công nghiệp hỗ trợ để tạo cụm liên kết ngành, giảm phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài… là giải pháp để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của DN Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu'.
Các quốc gia bảo vệ ngành công nghiệp ô tô
Các quốc gia có ngành công nghiệp ô tô phát triển ở châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia đã nhận thức sớm về việc bảo vệ và thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô trong nước. Các quốc gia này sử dụng thuế để bảo vệ nền công nghiệp ô tô mới phát triển, đồng thời tăng cường đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ.
Trong 30 năm qua, Thái Lan áp thuế nhập khẩu lên đến 80% cho ô tô và 60% cho xe máy để giữ các nhà máy sản xuất trong nước. Năm 1990, chính phủ Thái Lan bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô với các chính sách như tăng thuế đối với xe nhập khẩu, đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Việc điều chỉnh thuế đã giúp Thái Lan bảo vệ ngành công nghiệp ô tô trong nước. Cơ quan quản lý công nghiệp tính thuế dựa trên tỷ lệ linh kiện, phụ tùng nội địa hóa của xe ô tô.
Ở giai đoạn đầu, ngành công nghiệp ô tô của Hàn Quốc đã đối mặt với nhiều thách thức. Tuy nhiên, nước này đã bắt đầu với một kế hoạch dài hạn để sản xuất một mẫu xe riêng, loại xe có động cơ nhỏ hơn 1,5 lít, nhằm giảm nhu cầu xe có động cơ lớn bằng cách áp dụng thuế đặc biệt. Thành công của Hàn Quốc là tăng tỷ lệ nội địa hóa xe bình dân lên 95% đến năm 1975.
Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Indonesia, tỷ lệ nội địa hóa ô tô lắp ráp tại nước này đã vượt qua 50% vào năm 2021. Với việc thu hút vốn nước ngoài ngày càng tăng, có khoảng 1.500 công ty cung ứng linh kiện và hỗ trợ cho hơn 20 hãng xe tại Indonesia. Thành công này là kết quả của các chính sách thúc đẩy phát triển mạng lưới công nghiệp phụ trợ và sản xuất ô tô trong nước từ những năm 1960.
Cùng với sự phát triển kinh tế, mọi gia đình đều muốn sở hữu một chiếc xe, nhưng nền công nghiệp ô tô trong nước vẫn chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu này.
Hơn nữa, việc ký kết các hiệp định thương mại như ATIGA, CPTPP, EVFTA... mở ra cơ hội để giảm chênh lệch thuế suất nhập khẩu giữa xe nguyên chiếc và linh kiện, làm cho các chiếc xe made in Việt Nam cạnh tranh về giá cả và chất lượng với xe nhập khẩu.
Những chiếc xe made in Việt Nam, sẵn sàng cạnh tranh về giá cả và chất lượng với xe nhập khẩu, tuy nhiên việc bãi bỏ quy định về độ rời rạc mà chưa có quy định thay thế được cho là sẽ tạo ra khoảng trống pháp lý và gây khó khăn trong việc thực hiện các chính sách thuế. Hy vọng các cơ quan liên quan sẽ sớm thống nhất phương án để quy định mới có hiệu lực, tạo điều kiện cho nền công nghiệp ô tô trong nước phát triển tiếp tục.
