
Dạy bảo này đã được truyền bá từ lâu và làm cho người ta ngạc nhiên. Các nhà văn như Byron, Leconte de Lisle, Schopenhauer, Poe, Kierkegaard, Baudelaire đã nêu vấn đề này lại, nhắc nhở lại những gì người Trung Hoa cổ, người Ấn, người Ai Cập, người Hy Lạp, người Thiên Chúa giáo cổ đã nói.
Sự dạy bảo này nhanh chóng lan truyền, làm tan nát cái niềm vui được cho là đời sống. Ngày nay, hầu hết mọi người đều hiểu rằng không có lý do gì để tin rằng cuộc sống là sự thật, là cái đẹp, cái tốt, cái thánh thiện, là niềm vui.
Vấn đề không phải là ở việc các nếp nhăn xuất hiện trên khuôn mặt ta giống như người Trung Hoa cách đây 5 nghìn năm; cũng không phải là ta đã trải qua niềm vui đau khổ; mắt ta mờ, trí óc ta mệt mỏi, lưng ta còng, và ta bắt đầu chán chường, buông xuôi rồi qua đời, giống như người Hy Lạp, người Ấn, người Thiên Chúa giáo cổ.
Bàn tay của bà cụ già nhăn nheo, khô héo, run rẩy không phải do làm việc nhiều. Đó là bàn tay dấn thân vào niềm vui. Khuôn mặt của bà không bao giờ truyền đạt sự chân thành một cách đặc biệt. Nhìn vào bàn tay đó, thực tế lạc quan nhất của thế gian này cũng phải giật mình.
Cuối cùng, bàn tay của chúng ta sẽ trở nên như thế, một bàn tay già nua, buồn bã, mệt mỏi, cô đơn. Không gì có thể thay đổi điều này. Điều duy nhất mà con người có thể làm giống như Dostoyevsky, là bị đè nặng bởi sự đau khổ của toàn nhân loại, không phải trước mặt bạn, mà trước toàn bộ sự đau khổ của nhân loại!

Cách đây một trăm năm, người ta đã nhận ra rằng cuộc sống đau khổ, nhưng không có gì khác ngoài bàn tay của bà cụ già. Tình hình từ đó đến nay chỉ thay đổi ở chỗ một phần nhỏ nhân loại vẫn kiên định tin vào chủ nghĩa lạc quan. Họ cố gắng tin rằng cuộc sống là niềm vui.
Một phần nhỏ của loài người, khi nhìn thấy bàn tay của cụ già, bỗng hiểu ra sự thật thời cổ đại, hiểu được triết lý Ấn Độ, bi kịch Hy Lạp, tôn giáo Ai Cập, và tinh thần Thiên Chúa giáo.
Số phận con người lơ lửng như sợi tóc trước vực thẳm đen tối, đầy những vấn đề khó khăn, đời sống quả thực là một sự kinh khủng. Những kẻ phủ nhận sự đau khổ của cuộc sống bằng lời nói, phải dùng hành động để chứng minh điều đó. Bằng cách sử dụng tất cả sức mạnh của mình để chiến thắng sự đau khổ, con người có thể vượt qua. Không nhất thiết phải suy nghĩ về việc qua thời gian, con người đã phát minh ra những công cụ nào để đối phó với đau khổ, và họ bảo vệ lẫn nhau như thế nào để có được một chút niềm vui.
Một trong những phương tiện đầu tiên là nền kinh tế. Ở đây có đủ loại cách tiêu dùng và giới tính. Sau đó là các quan điểm về cuộc sống khác nhau để con người có thể an ủi mình trong ảo tưởng một cách dễ chịu. Tất cả những điều này đều ở mức độ bình thường, thông thường và bề ngoài.
Tuy nhiên, có những cách tiếp cận cao hơn và khó khăn hơn, khi con người cố gắng tự giải thoát khỏi nỗi đau khổ và tìm cách đối phó với nó. Một số phái Yoga phương Đông thực hiện điều này.
Nếu ai đó chú trọng vào sự tích luỹ vật chất, hoặc đắm mình trong sự tiêu dùng, hoặc xây dựng một thế giới tưởng tượng, họ đang cố gắng vô thức tránh né khỏi nỗi đau khổ.

Các phương pháp Yoga khác nhau lại cố gắng trực tiếp chống lại đau khổ một cách có ý thức. Bằng cách: với các nguyên tắc thường xuyên thoát khỏi những điều làm đau lòng. Nhưng dù phương pháp là bình thường và vô thức, hoặc cao cấp và có ý thức, kết quả vẫn như nhau: con người vươn lên khỏi đau khổ và đạt đến hạnh phúc. Mọi người đều biết điều này có thể thực hiện được. Và mọi người đều biết, họ có tự do làm điều đó. Nhưng nguy hiểm không phải ở phần kết thúc mà là ở phần giữa các tình huống.
Truyền thuyết kể rằng có bốn nhà thông thái cầu xin cho đến khi điều mong muốn của họ được đáp ứng: được đưa lên thiên đường với những kẻ đã cứu rỗi. Họ có thể ở đó suốt cả ngày với những kẻ hạnh phúc, từ lúc bình minh cho đến khi mặt trời lặn, họ có thể thưởng thức hương vị của thiên đường.
Người thông thái đầu tiên không thể chịu đựng được trạng thái này và kết thúc cuộc đời mình; người thứ hai rơi vào tình trạng rối loạn tâm thần; người thứ ba gắn bó với niềm hạnh phúc đó và giữ nó cho riêng mình suốt đời. Chỉ người thông thái thứ tư chọn cách ra đi một cách thanh thản, sử dụng những gì có để giúp đỡ những người tìm đến mình.
Từ vòng tròn của nỗi đau khổ, mọi người đều tự do ra đi, theo ý muốn của họ, và tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng một phần tư người đã chứng kiến thế giới hạnh phúc bị tiêu diệt bởi ấn tượng đó. Mỗi ngày, ta đều thấy một số người gục ngã và chết tại cửa thiên đàng. Một phần tư khác rơi vào tình trạng tinh thần loạn lạc. Rất nhiều người như vậy. Còn một phần tư thứ ba gắn bó hạnh phúc với chính bản thân họ, chỉ dành cho riêng họ, và không bao giờ chia sẻ với người khác.
Chỉ có người thông thái thứ tư có thể chịu đựng được niềm hạnh phúc.
Về mặt kinh tế, niềm vui, tri thức, và tài năng có thể tự do được thu lượm, nhưng điều này là một thách thức lớn với những người không đủ mạnh mẽ. Họ sẽ chết, hoặc trở nên điên cuồng, hoặc gắn bó với những điều đó cho riêng mình. Ánh sáng của thiên đường sẽ biến thành bóng tối trong những trường hợp như vậy. Người chịu đựng được hạnh phúc là người biết chia sẻ. Ánh sáng chỉ tồn tại để hỗ trợ những người chia sẻ với người khác.
Khi chúng ta rời bỏ thế giới này, Thượng Đế hướng dẫn: 'Tôi giao từng con người cho con, hãy giúp đỡ họ, cung cấp thức ăn, quần áo cho họ, chăm sóc họ như chăm sóc chính bản thân con, đừng để họ rơi vào bóng tối. Hãy chia sẻ những gì con kiếm được, những gì con biết, và những gì con trải qua'.

Cả thế gian đều thuộc về con. Con có tự do lựa chọn từ những hòn đá nhỏ đến tận bầu không khí. Hãy nhận biết, hãy chiếm lĩnh, không ai có quyền ngăn cản con, nhưng thật đáng tiếc nếu con chỉ giữ cho riêng mình. Điều con không chia sẻ với người khác, nếu là vàng sẽ trở thành bùn, nếu là ánh sáng thiên thần sẽ trở thành lời nguyền, nếu là nỗi say mê sẽ dẫn đến sự chết. Hãy tha thứ cho con cũng như với tất cả mọi người: con phải chịu trách nhiệm với tất cả những người sống cùng con, phải trang trải từng đồng xu mà con đã tiêu dùng, trang trải toàn bộ niềm vui mà con đã dành cho bản thân, và trang trải toàn bộ những khoảnh khắc hạnh phúc mà con đã trải qua. Con hãy bước đi, hãy sống, bởi vũ trụ này đều là của con.
Trích từ cuốn sách 'Câu chuyện vô hình và đảo' - Hamvas Béla
Nguyễn Hồng Nhung dịch.
