Introduction
Structure of the IELTS Speaking Test?
Grammar in the IELTS Speaking test demands what?
Factors evaluating grammar for Band 5-6 candidates
Common grammar errors at bands 5-6
Introduction to morphology and grammar morphology

Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chứa nghĩa, và cũng là đơn vị ngôn ngữ có thể truyền tải yếu tố ngữ pháp. (Cook, 1993). Ví dụ, “stayed” có hai hình vị. Hình vị thứ nhất “stay” chỉ ra khái niệm về một hành động, hình vị thứ hai “-ed” biểu thị thời của hành động, trong bài nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “hình vị ngữ pháp” để nói về hình vị thứ hai.
Hình vị ngữ pháp là đơn vị ngôn ngữ được thêm vào từ với mục đích ngữ pháp (Krashen, 2002). Ví dụ, trong câu sau “I have been to ten areas”. Hình vị ngữ pháp trong câu này là số nhiều -s trong từ “areas”.
Goldschneider and DeKeyser (2005) đã chia các hình vị ngữ pháp thành sáu yếu tố chính, bao gồm: –ing, số nhiều -s, quán từ, động từ quá khứ có quy tắc, động từ quá khứ bất quy tắc, và ngôi thứ ba số ít. Theo nghiên cứu của Roothooft & Breeze (2019), các lỗi liên quan đến hình vị ngữ pháp của học sinh band 5 và band 6 hầu như không có sự khác biệt. Với động từ quá khứ có quy tắc và ngôi thứ ba số ít, tỉ lệ sai của học sinh ở band 5 thậm chí còn ít hơn so với học sinh band 6, trong khi đó, học sinh ở band 5 lại thường mắc nhiều lỗi hơn học sinh band 6 trong các hình vị ngữ pháp khác, bao gồm động từ quá khứ bất quy tắc, –ing, quán từ và số nhiều. Trong tất cả các hình vị ngữ pháp nêu trên, ngôi thứ ba số ít là lỗi học sinh ở cả band 5 và band 6 hay mắc nhất, trong khi đó, học sinh thường ít mắc lỗi liên quan đến số nhiều -s.
Common errors in grammar morphology
Dựa trên lí thuyết về sự phân loại của Dulay, Burt and Krashen (1982), Ting, Mahadha và Chang (2010) đã tìm ra được bốn nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh hay bị sai các hình vị ngữ pháp trong văn nói. Bốn nguyên nhân bao gồm: nhầm thông tin (misinformation), bỏ sót (omission), tự động thêm (addition), và thiếu trật tự (misordering).
Lỗi ngữ pháp phổ biến nhất trong văn nói thuộc về bỏ sót. Khi nói tiếng Anh, người nói thường hay bỏ sót một vài từ hoặc hình vị từ trong câu.

Ví dụ: “I am going to __museum”.
Trong câu nói này, người nói đã thiếu mạo từ “the”.
Hoặc, ví dụ “He like reading book”
Trong câu nói này, người nói đã thiếu số nhiều -s ở từ “books” và động từ ngôi thứ ba số ít -s ở từ “likes”.
Lỗi ngữ pháp thứ hai liên quan đến việc tự động thêm khi nói. Khi nói, rất nhiều học sinh tự động thêm một số hình vị ngữ pháp vào câu nói của mình.
Ví dụ: “I decide to living here”. Trong tiếng Anh, cấu trúc với động từ “decide” là “decide + to + động từ nguyên thể”. Câu chính xác ở đây phải là “I decide to live here”.
Lỗi phổ biến thứ ba là nhầm thông tin, ví dụ trong tiếng Anh, ta có thể nói là “I go to school by bus” nhưng không thể nói là “by foot”, nếu muốn nói là tôi đi bộ đến trường, thì phải nói là ” I go to school on foot.
Lỗi ngữ pháp ít phổ biến nhất trong bốn loại là thiếu trật tự. Học sinh thường không mấy khi mắc phải lỗi này, ví dụ trong tiếng Việt, ta hay nói “Tôi và anh tôi cùng nhau ăn tối”. Nếu đổi sang tiếng Anh, câu sẽ trở thành “I and my brother watch films”, tuy nhiên, câu đúng phải là “My brother and I watch films”.
Cause
Hoặc, những lỗi kể trên có thể là vì người nói bị ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ (Kalamsi, 2019). Ví dụ, trong câu tiếng Anh sau:
“The girl who talked to me last night lives next to my house.”
Người nói với ngôn ngữ tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ rất có thể sẽ phạm vào lỗi bỏ sót, thiếu quán từ “the”, số nhiều -s hoặc động từ quá khứ có quy tắc -ed, vì trong tiếng Việt, người nói chỉ cần nói như sau.
“Cô gái nói chuyện với tôi tối hôm qua sống cạnh nhà tôi.”
Ngoài ra, theo Krashen (2003), các lỗi ngữ pháp kể trên rất có thể là do người nói không thực sự hiểu về cấu trúc ngữ pháp trong tiếng Anh. Thay vì thực sự sử dụng cấu trúc ngữ pháp chính xác trong tiếng Anh, họ chỉ nói dựa theo “linh cảm” hoặc dựa theo việc tiếp thu ngôn ngữ một cách vô thức. Ví dụ, một người học tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai sử dụng ngữ liệu thực tế[1] để luyện nghe và từ đó luyện nói, họ sẽ tiếp nhận kiến thức liên quan đến tiếng Anh một cách tự nhiên, không cần cố gắng. Tuy nhiên, điều này có thể làm người học không chú ý hay thậm chí là bỏ qua hình vị ngữ pháp.
Một câu thoại trong phim “Friends”: “All of a sudden, the phone starts to ring.” Khi xem phim để luyện tiếng Anh, người học rất có thể bỏ qua ngôi thứ ba số ít -s ở từ “starts”.
Remedy
Để giúp giáo viên có nhiều cơ hội chữa lỗi sai cho học sinh, cũng như giúp học sinh có nhiều cơ hội thực hành trong lớp, sửa lỗi sai cho các bạn và tự sửa lỗi sai cho chính mình, Ting, Mahadha và Chang (2010) cũng đề xuất một phương pháp giảm thiểu lỗi sai liên quan đến hình vị ngữ pháp – tăng cường giao tiếp trong lớp dựa trên những tình huống có sẵn.
Trong nghiên cứu của họ, học sinh được tham gia một khoá học Nói, hàng tuần được tham gia đóng các vai khác nhau và kết quả là vào tuần cuối cùng của khoá học, các lỗi sai ngữ pháp trong bài nói của học sinh giảm đi đáng kể, trừ các lỗi liên quan đến số nhiều.
Nếu so với các cuộc hội thoại thực tế ở bên ngoài, lớp học sẽ là nơi phù hợp hơn với những học sinh ở trình độ band 5, band 6 theo tiêu chuẩn bài thi IELTS. Người học sẽ có nhiều cơ hội để được luyện tập và sẽ không cảm thấy xấu hổ mỗi lần nói sai hoặc mỗi lần bị sửa. Vì vậy, theo thời gian, khi đã quen với việc nói, người học sẽ có thể nói với tốc độ nhanh hơn, trôi chảy hơn và ít lỗi sai hơn.
Conclusion
Chú thích
[1] Ngữ liệu thực tế là tài liệu không được thiết kế với mục đích giáo dục, ngữ liệu thực tế bao gồm các bài báo, phim, v.v.
References
Cook, V.: Linguistics and second language acquisition. 1993 London: Macmillan
Goldschneider, J.M., and DeKeyser, R.M. Explaining the “natural order of L2 morpheme acquisition” in English: A meta-analysis of multiple determinants, Language Learning, vol 51 (1) 2001, pp 1–50.
Handbook IELTS, 2005 University of Cambridge ESOL Examinations
Kamlasi, I. Describing the Students’ Grammatical Errors on Spoken English, Lectura: JurnalPendidikan, 6 No.1 (2019), p.83-p.91
Krashen, S. Second Language Acquisition and Second Language Learning. 1981 Pergamon Press, New York.
Nuriye Değirmenci; Selami, Foreign Language Teachers’ Perceptions of Error Correction in Speaking Classes: A Qualitative Study, Qualitative Report, Vol. 22 Issue 1, 2017, p123-135.
Roothooft, H., and Breeze, R. IELTS: Investigating the development of ‘grammatical range and accuracy’ at different proficiency levels in the IELTS Speaking test. IELTS Research Reports Online Series, No. 1. 2019 British Council, Cambridge Assessment English and IDP: IELTS Australia.
Steve Issitt, Improving scores on the IELTS speaking test, ELT Journal, Volume 62, Issue 2, April 2008, Pages 131–138, https://doi.org/10.1093/elt/ccl055
Ting; Mahadha; Chang Grammatical Errors In Spoken English Of University Students In Oral Communication Course, Journal of Language Studies 10(1) 2010 p53-70
www.ielts.org/library/1649-IELTShbk-2005.pdf
Hoàng Khánh Linh
