
| Cá sam | |
|---|---|
Một con cá sam hổ (Potamotrygon tigrina) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Chondrichthyes |
| Phân lớp (subclass) | Elasmobranchii |
| Bộ (ordo) | Myliobatiformes |
| Họ (familia) | Potamotrygonidae |
| Chi (genus) | Potamotrygon Garman, 1877 |
| Loài điển hình | |
| Trygon hystrix J. P. Müller & Henle, 1841 | |
Con sam hay cá đuối nước ngọt (Danh pháp khoa học: Potamotrygon) là một chi cá đuối nước ngọt thuộc họ Potamotrygonidae trong bộ cá đuối ó (Myliobatiformes), sống chủ yếu ở các dòng sông ở Nam Mỹ. Cá sam là một loài sinh vật cổ xưa, vẫn giữ được nhiều đặc điểm nguyên thủy và thường được ưa chuộng làm cá cảnh, dù giá khá cao.
Tương tự như các loài cá đuối có gai độc khác, cá thuộc chi này có nọc độc ở gốc đuôi và vết chích của chúng có thể gây nguy hiểm lớn cho con người. Người bản địa ở Nam Mỹ còn sợ cá đuối hơn cả cá piranha.
Các loài Potamotrygon rất đa dạng về màu sắc, hình dáng và kích thước, với chiều rộng đĩa tối đa từ 31 cm ở P. wallacei đến 1,5 m ở P. brachyura.
Các loài
- Potamotrygon boesemani (Rosa, de Carvalho & de Almeida Wanderley, 2008)
- Potamotrygon brachyura (Günther, 1880)
- Potamotrygon castexi (Castello & Yagolkovski, 1969)
- Potamotrygon constellata (Vaillant, 1880)
- Potamotrygon falkneri (Castex, 1963)
- Potamotrygon henlei (Castelnau, 1855)
- Potamotrygon hystrix (Müller & Henle, 1841)
- Potamotrygon leopoldi (Castex & Castello, 1970)
- Potamotrygon magdalenae (Duméril -ex Valenciennes-, 1865)
- Potamotrygon marinae (Deynat, 2006)
- Potamotrygon motoro (Müller & Henle, 1841)
- Potamotrygon ocellata (Engelhardt, 1912)
- Potamotrygon orbignyi (Castelnau, 1855)
- Potamotrygon schroederi (Fernández-Yépez, 1958)
- Potamotrygon schuhmacheri (Castex, 1964)
- Potamotrygon scobina (Garman, 1913)
- Potamotrygon signata (Garman, 1913)
- Potamotrygon yepezi (Castex & Castello, 1970)
Đặc điểm

Cá sam trưởng thành có thể dài từ 50–60 cm. Đánh giá một con cá sam khỏe mạnh và đẹp thường dựa vào các tiêu chí như: mắt cao, sáng và có đốm hoa, khoảng giữa hai mắt phẳng nhẵn, đốm viền rõ ràng, đuôi thẳng không lộ gai. Sam có sức khỏe tốt, đốm hoa đẹp và dày, đôi khi có cả đốm bụng, và thường sinh sản vào những giờ không cố định như nửa đêm hoặc gần sáng.
Cá sam là loài có độc với một cái gai nhọn ở đuôi, chứa độc tố có thể gây cảm giác bỏng rát và vết thương đau đớn. Để điều trị, cần ngâm vết thương vào nước nóng để làm giảm độc tố. Cá sam chủ yếu sống ở đáy và dễ nuôi, nổi bật với cách bơi uyển chuyển và đẹp mắt.
Loài cá sam rất đa dạng, được phân loại chủ yếu dựa trên màu sắc và hoa văn đặc trưng. Tên của các loại cá sam thường dựa vào đặc điểm bên ngoài của chúng.



- Sam Black Diamond nổi bật với các đốm lớn, dày nổi trên nền đốm nhỏ li ti.
- Sam Galaxy mang vẻ đẹp như dải ngân hà với nền đen nhung và các đốm sao trắng đều nhau.
- Sam Moto có giá thành phải chăng, mặc dù vẻ ngoài không quá bắt mắt nhưng sức ăn khỏe và khả năng sinh sản tốt.
- Cá sam đen có chấm đen trắng độc đáo và bắt mắt.
- Cá sam hổ nổi bật với hoa văn lớn và màu sắc rực rỡ.
Thói quen ăn uống
Chế độ ăn của cá sam chủ yếu gồm tôm, với các loại thức ăn phụ như chạch, cá nhỏ, giun, thịt trùng trục, hầu, cá tạp nhỏ và cá đông lạnh. Một con cá sam trưởng thành có thể tiêu thụ đến 2,5 kg tôm mỗi ngày, chia thành 2-3 bữa chính, chưa tính bữa phụ. Cá sam non ăn ít hơn khoảng 1/4-1/3 so với cá trưởng thành. Theo lượng thức ăn tiêu thụ, người nuôi có thể đánh giá sức khỏe của từng con.
Cá sam khỏe mạnh rất dễ nuôi và ăn nhiều loại thức ăn. Thức ăn lý tưởng nhất là trùn đen, trùn đất và tép ma. Nếu đã quen, cá sam cũng sẽ ăn tôm đông lạnh, thịt cá mướp, cá hồi và sò ốc. Cá sam có khả năng ăn tốt và tiếp nhận nhiều loại thực phẩm.
Cá cảnh
Cá sam, hay còn gọi là cá đuối nước ngọt, chủ yếu đến từ các dòng sông ở châu Mỹ nhưng thường được nhập khẩu từ Thái Lan và Trung Quốc. Nó được nuôi nhiều ở Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản, và Đài Loan với giá khá cao. Những con cá sam đẹp có thể có giá từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng trên thị trường quốc tế.
Cá sam cảnh đã nhanh chóng lọt vào top 3 loài cá cảnh đắt đỏ và đẹp nhất tại Việt Nam, cùng với cá rồng và cá hổ. So với cá hổ và cá rồng, cá sam dễ nuôi hơn, với vẻ đẹp mềm mại, độc đáo và giá trị kinh tế cao. Cá sam Black Diamond (Kim cương đen) mới sinh từ 1 - 2 tháng có giá trên 20 triệu đồng, trong khi cá Galaxy (Bầu trời sao) cũng có giá tương tự. Loại cá sam rẻ nhất là sam Moto, giá khoảng 1 - 2 triệu đồng/con.
Hiện tại, một cặp cá sam Black Diamond thuần chủng để gây giống có giá không dưới 600 triệu đồng trên thị trường quốc tế. Trong một đàn cá sam, chỉ có 1-2 con đặc biệt. Vì các chủ buôn thường không bán lẻ, nên đôi khi bạn phải mua cả đàn để chọn một con giống tốt. Nhiệt độ nước trong bể cần duy trì từ 30 - 32 độ C và độ muối phải đạt từ 0.2 - 0.3 (tương đương 2 – 3 kg muối/khối nước).
Xem thêm
- Bleeker, P. (1852). 'Bijdrage tot de kennis der Plagiostomen van den Indischen Archipel'. Verhandelingen van het Bataviaasch Genootschap van Kunsten en Wetenschappen. 24: 1–92.
- Last, P.R.; Compagno, L.J.V. (1999). 'Myliobatiformes: Dasyatidae'. In Carpenter, K.E.; Niem, V.H. FAO identification guide for fishery purposes. The living marine resources of the Western Central Pacific. Food and Agriculture Organization of the United Nations. pp. 1479–1505. ISBN 92-5-104302-7.
- Last, P.R.; Manjaji-Matsumoto, B.M. (2008). 'Himantura dalyensis sp. nov., a new estuarine whipray (Myliobatoidei: Dasyatidae) from northern Australia'. In Last, P.R.; White, W.T.; Pogonoski, J.J. Descriptions of new Australian Chondrichthyans. CSIRO Marine and Atmospheric Research. pp. 283–291. ISBN 0-1921424-1-0.
- Trại cá sam cảnh triệu đô của luật sư Hà thành Lưu trữ 2016-10-23 tại Wayback Machine
