
| Rươi biển | |
|---|---|
Rươi biển ở Việt Nam | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Annelida |
| Lớp (class) | Polychaeta |
| Phân lớp (subclass) | Errantia |
| Bộ (ordo) | Phyllodocida |
| Họ (familia) | Nereidae |
| Phân họ (subfamilia) | Gymnonereidinae |
| Chi (genus) | Tylorrhynchus |
| Loài (species) | T. heterochaetus |
| Danh pháp hai phần | |
| Tylorrhynchus heterochaetus (Quatrefages, 1866) | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
| |
| Ẩm thực Hải Phòng |
|---|
|
Các món ăn, uống đặc trưng[hiện] |
|
Nguyên liệu, sản vật[hiện] |
|
Liên quan[hiện] |
Cua biển (Tylorrhynchus heterochaetus) là một loại động vật không xương sống thuộc họ Cua biển, lớp Polychaeta, ngành Giun đốt. Chúng thường sinh sống trên các bãi cát sỏi, mép khe đá hoặc đáy bùn cát. Đây là một nguồn tài nguyên thủy sản phong phú tại Việt Nam, nơi chúng còn được gọi đơn giản là cua biển.
Đặc điểm
Cua biển có sự phân hóa giới tính giữa đực và cái, nhưng rất khó phân biệt nếu không sử dụng kính hiển vi có độ phóng đại lớn.
Đầu
Phần đầu của rươi biển bao gồm hai phần chính: thùy trước miệng và khu vực quanh miệng. Thùy trước miệng nhỏ và phẳng, với hai râu ngắn ở mặt trên và một đôi xúc biện phân đốt rõ ràng ở hai bên. Phần lưng của thùy trước miệng có hai đôi mắt màu đen. Khu vực quanh miệng ngắn và có hai đôi chi bên. Phần trước của hầu nhô ra ngoài, với hàm kitin hình móc và các răng bên trong dùng để nghiền nát hoặc cắn thức ăn.
Thân
Cơ thể của rươi biển kéo dài với 55 - 65 đốt và chiều dài từ 45 đến 65 mm. Phần có đường kính lớn nhất nằm ở đầu và giữa cơ thể, khoảng 2 – 3 cm. Phần sau của cơ thể thu hẹp dần về phía đuôi. Mặt lưng có màu hồng thẫm và gồ cao hơn. Cơ thể của rươi có dạng trụ tròn không đều, và vào thời kỳ sinh sản, cơ thể có nhiều thay đổi với sự phân chia rõ rệt, đặc biệt là phần sau chứa các sản phẩm sinh sản.
Các chi
Các chi ở phần cuối cơ thể rươi to và phát triển mạnh mẽ, với các túm tơ lưng và bụng rất phát triển. Thùy đuôi là các đốt cuối cùng của cơ thể, có dạng hình nón và không có chi bên nhưng có hai chi phụ dài ở vùng hậu môn. Phía trước đốt cuối cùng là khu vực sinh trưởng, nơi tạo ra các đốt mới của cơ thể rươi. Phần cuối của đốt cuối cùng có lỗ hậu môn.
Thói quen

Trong môi trường tự nhiên, rươi thường di chuyển gần mặt đáy. Chế độ ăn của chúng chủ yếu bao gồm mùn bã hữu cơ, xác động vật, và sinh vật phù du trôi nổi trong nước. Rươi ít khi di chuyển xa nơi chúng cư trú và chịu ảnh hưởng lớn từ sự thay đổi của thủy triều cũng như điều kiện môi trường tại các cửa sông ven biển.
Rươi đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy các chất mùn bã hữu cơ và xác động vật trong chu trình dinh dưỡng của hệ sinh thái vùng triều, xử lý chất thải hữu cơ, và làm cho đất ngập nước trở nên màu mỡ, tơi xốp và thông thoáng. Do khả năng làm sạch nước tự nhiên, rươi biển còn được coi là chỉ số đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường thông qua mật độ quần thể, sản lượng và tần suất xuất hiện tại các cửa sông.
Các liên kết
- Khám phá đặc sản rươi và những điều bí ẩn chưa được giải đáp
- Cơ hội lợi nhuận cao từ việc nuôi rươi
- Khám phá nguồn lợi từ rươi biển Lưu trữ 2015-11-23 trên Wayback Machine
- Hướng dẫn mùa rươi, những điều cần nhớ khi thưởng thức rươi Lưu trữ 2016-11-19 trên Wayback Machine
- Chả rươi Hà Nội vào đầu đông Lưu trữ 2016-11-19 trên Wayback Machine
- Săn rươi để kiếm nửa tỷ đồng mỗi mùa
- Mùa rươi nhộn nhịp
