
Đàn tính (hay còn gọi là đàn tẩu hoặc đàn bầu) (tiếng Trung: 天琴; Hán-Việt: thiên cầm; bính âm: Tiān qín) là nhạc cụ truyền thống của người Choang ở Trung Quốc, cùng với người Tày, người Nùng, người Thái tại Việt Nam và một số khu vực ở Lào, Thái Lan. Trong tiếng Thái, tính là phiên âm của chữ thiên (天, tiān) nghĩa là trời, còn tẩu có nghĩa là quả bầu. Dịch ra tiếng Việt, đàn tính tẩu thường được gọi là đàn bầu hay đàn then, nhưng để phân biệt với đàn bầu miền xuôi, nhiều người sử dụng tên gọi đàn tính.
Đối với người Choang ở Trung Quốc và người Tày ở Việt Nam, đàn tính (thiên cầm) là nhạc cụ chủ yếu để độc tấu, đệm hát và trình diễn múa. Phụ nữ Choang thường vừa chơi đàn tính vừa hát, và khi đệm hát, đàn tính thường chơi theo giai điệu lời ca. Trong nhạc múa của dân tộc Choang, đàn tính có các bài bản đặc trưng riêng.
Huyền thoại
Theo truyền thuyết của người Choang, từ xa xưa, ở một làng nhỏ dưới chân dãy Thập Vạn Đại Sơn, có một đôi trai gái hiền lành sống hạnh phúc. Chàng trai tên là Nùng Đoan và cô gái tên là Nùng Á, họ thường cùng nhau lên núi để hái củi. Một ngày nọ, khi đến cửa một hang đá, họ nghe thấy âm thanh du dương của tiếng “tính tang” từ trong hang vọng ra. Tò mò, họ tìm thấy một vũng nước với nhiều giọt nước nhỏ từ vách đá rơi xuống. Âm thanh đó khiến họ cảm thấy vui vẻ và họ muốn mang âm thanh kỳ diệu này về làng. Nùng Á nảy ra ý tưởng làm một nhạc cụ phát ra âm thanh tương tự. Họ đã tạo ra một cây đàn từ vỏ bầu và gỗ, và âm thanh phát ra rất giống tiếng nước suối. Đàn nhanh chóng được yêu thích và nổi tiếng trong làng. Để đáp lại, Ngọc Hoàng đã đưa họ lên thiên đình làm nghệ nhân, và họ tiếp tục chơi đàn cho Ngọc Hoàng nghe. Mỗi năm từ mồng một đến rằm tháng giêng, họ trở về trần gian để cùng dân làng vui vẻ nhảy múa.
Đối với người Tày, có một câu chuyện về nguồn gốc cây đàn tính: Xưa có một chàng trai nghèo, không thể cưới vợ. Một ngày, khi nhìn xuống dòng suối, chàng thấy mình đã trở nên già nua. Buồn bã với cuộc sống, chàng mơ ước có một cây đàn để chia sẻ tâm sự. Chàng đã lên trời xin một quả bầu và giống dâu để nuôi tằm. Từ những vật liệu đó, chàng chế tác ra cây đàn tính với 12 dây. Mỗi khi chơi đàn, âm thanh của nó đã biến những nỗi buồn của chàng thành những giai điệu buồn bã.
Những âm thanh buồn từ cây đàn khiến mọi vật xung quanh cũng trở nên u sầu. Cỏ cây héo úa, và Bụt lo lắng rằng nếu chàng trai cứ đàn như vậy, mọi thứ sẽ chết hết. Vì vậy, Bụt đã yêu cầu chàng trai giảm số dây của đàn từ 12 xuống 3, để âm thanh trở nên vui tươi và phong phú hơn, thay vì chỉ có sự sầu muộn.
Đặc điểm
Tính tẩu (thiên cầm) là loại nhạc cụ dây có âm vực rộng lên đến 3 quãng tám. Tuy nhiên, trong thực tế, người biểu diễn chỉ thường sử dụng âm trong khoảng 2 quãng tám và một số âm vượt ngoài.
Thiên cầm bao gồm các bộ phận chính sau đây:
- Bầu vang (bộ phận tăng âm): Được làm từ nửa quả bầu khô, có thể thay đổi kích thước tùy thuộc vào quả bầu, thường có đường kính từ 15 đến 25 cm. Để đạt được âm vang tốt nhất, bầu vang thường là quả bầu tròn và dày đều. Mặt đàn thường làm từ gỗ cây ngô đồng mỏng khoảng 3mm, với hai lỗ hình hoa thị để thoát âm. Ngựa đàn nhỏ, đặt trên mặt đàn.
- Cần đàn: Làm từ gỗ dâu hoặc gỗ thừng mục, nhẹ và thẳng, dài khoảng 9 nắm tay người chơi. Phần dưới xuyên qua bầu vang, phần trên có thể uốn cong hình lưỡi liềm hoặc đầu rồng, phượng. Mặt cần đàn trơn, không có phím. Hốc luồn dây có 2 hoặc 3 trục dây.
- Dây đàn: Trước đây sử dụng tơ xe, hiện tại là nilon. Có loại 2 dây và 3 dây. Loại 2 dây phổ biến ở Thái, Tày, được chỉnh theo khoảng cách quãng bốn hoặc quãng năm. Loại 3 dây, thường dùng bởi người Tày, có thêm 1 dây trầm giữa 2 dây chính. Loại 3 dây gọi là tính then, dùng trong nghi lễ Then, còn loại 2 dây gọi là tinh tẩu, dùng để đệm hát và múa. Hiện nay, đàn tính người Choang Trung Quốc có thể có 4 dây, còn được gọi là đỉnh đinh (tiếng Trung: 鼎叮; bính âm: Dǐng dīng).
Cách chơi
Tính tẩu tạo ra âm thanh dịu dàng, thanh thoát. Khi phát ra âm cao, âm thanh gần giống đàn tam. Âm trầm của nó mang lại cảm giác mờ ảo cho người nghe.
Theo phương pháp cổ điển, người biểu diễn không dùng que khảy mà chỉ dùng ngón tay trỏ tay phải để gảy đàn. Ngón cái và ngón giữa giữ cần đàn gần bầu đàn. Ngón trỏ gảy xuống và hất lên luân phiên khi chơi giai điệu nhanh, còn khi giai điệu chậm, ngón trỏ chỉ gảy xuống.
Kỹ thuật tay phải bao gồm các động tác như ngón vê, ngón phi và đánh âm nền. Đối với tay trái, các thế bấm bao gồm ngón rung, ngón vuốt, ngón vê, ngón phi, ngón luyến và âm bội.
Vào thập niên 1970, một số nghệ nhân đã thử nghiệm cải tiến đàn tính tẩu bằng cách thêm dây vào cần đàn (khoảng 4-5 dây). Điều này yêu cầu làm cần đàn và bầu đàn lớn hơn, gây khó khăn trong việc bấm phím chính xác. Một số người sử dụng que gảy thay cho ngón tay, khiến âm sắc giống đàn banjo hơn là đàn tính tẩu gốc. Cũng có người thay gỗ làm bầu đàn, dẫn đến âm thanh đanh và khô, không đẹp như bầu đàn quả bầu khô. Các cải tiến này không đạt được thành công như mong đợi.
Video tham khảo
Các nhạc cụ dân tộc Việt Nam | |
|---|---|
Dây (Đàn bầu • Đàn đáy • Đàn nhị/Đàn hồ • Đàn tam • Đàn tranh • Đàn tứ • Đàn tỳ bà • Đàn nguyệt • Đàn sến • Guitar phím lõm • Tam thập lục • Trống quân) Màng rung (Trống bản • Trống bộc • Trống cái • Trống cơm • Trống chầu • Trống chiến • Trống đế • Trống mảnh • Trống khẩu • Bồng) Hơi (Kèn bầu • Tù và • Sáo trúc • Tiêu) Tự thân vang (Biên chung • Chiêng • Chũm chọe • Chuông • Khánh/Biên khánh • Mõ • Phách • Sênh sứa • Sênh tiền • Song lang • Thanh la • Tiu/Cảnh • Trống đồng) | |
| Miền núi phía Bắc | Bẳng bu • Cò ke • Đao đao • Đàn môi • Đuống/Luống • Kèn lá • Khèn H'Mông • Linh • Pi cổng • Pí đôi/Pí pặp • Pí lè • Pí một lao • Pí phướng • Púa • Sáo H'Mông • Ta in • Tính tẩu • Trống nêm • Trống tang sành |
| Bắc Trung Bộ | Abel • Khèn bè • Cr'tót • Ta lư |
| Tây Nguyên | Cồng chiêng (Aráp • Knăh ring • M’nhum • T’rum • Vang) Trống cái (H'gơr • Pơ nưng yun) Alal • Bro • Chênh kial • Chiêng tre • Chapi • Đàn đá • Đing năm • Đinh đuk • Đing ktút • Đuk đik • Goong • Goong đe • K'lông pút • K’ny • Khinh khung • Pơ nưng yun • Rang leh • Rang rai • T'rưng • Ta pòl • Tol alao • Tông đing • Tơ đjếp • Tơ nốt |
| Duyên hải Nam Trung Bộ | Trống Paranưng • Trống Ghinăng |
Mẫu tài liệu: Nhạc cụ của Trung Quốc
