
Đây là tài liệu hữu ích, gồm 10 trang và bao gồm 3 bài văn mẫu cảm nhận về bài thơ Muốn làm thằng Cuội, được tổng hợp từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh trên khắp cả nước. Chúc các bạn thành công trong học tập!
Đánh giá về bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà - Mẫu 01
Trong thế kỷ XX, Tản Đà là một trong những thi bá hàng đầu tại Việt Nam, nổi tiếng với sự tài năng, lãng mạn, và sự tự do trong sáng tác. Trong bài thơ 'Thú ăn chơi', ông viết:
Bước ra từ lòng hồ, Tản Đà đã hiện hình,
Quê nhà một thời có, nhưng cửa hiên đã không còn.
Nửa cuộc đời Nam, Bắc, Tây, Đông,
Bạn bè sum họp, nhưng vợ chồng rồi cũng chia ly.
Túi thơ vẫn rủ bước, khắp nẻo đường dẫn đi,
Rừng biển này, có gió trăng, có gì lạ...
Bài thơ “Muốn làm thằng Cuội' là một tác phẩm vĩ đại, thể hiện phong cách nghệ thuật đặc trưng của Tản Đà:
'Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi!
Cuộc đời này, em đã chán nửa rồi.
Cung quế ấy, đã có ai ngồi trên đó chưa?
Cành đa kêu gọi chị đến chơi với nó.
Có thai có bạn, không có gì phải buồn rầu,
Chỉ khi có gió, có mây, cuộc sống mới thực sự vui vẻ?
Mỗi năm, đến ngày rằm tháng tám,
Hai người cùng nhau nhìn xuống thế gian và cười vui.'
1. Bài thơ mở đầu bằng một lời kêu gọi 'buồn lắm, chị Hằng ơi!' - Một tiếng kêu đầy nghẹn ngào, nỗi lòng sâu sắc. Xuân Diệu, một nhà thơ lớn đã nhận xét như vậy.
'Đêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi!
Cuộc đời em, giờ đây đã chán nửa rồi'
Nỗi buồn đến mức 'buồn lắm'; trong cô đơn chỉ còn biết gọi chị Hằng để dãi bày tâm sự. Ba tiếng 'chị Hằng ơi!' rất biểu cảm, ý vị làm cho giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ man mác sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết: 'Đời đáng chán hay không đúng chán?', nay thì đã 'chán nửa rồi'. Bài thơ in trong tập 'Khối tình con' xuất bản năm 1916, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát, tù hãm. Vì công danh dở dang: 'Tài cao, phận thấp, chí khí uất'. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị 'Lệ ai giàn giụa với giang san'. Đó là nỗi buồn của một thế hệ trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu:
'Nỗi buồn của tôi như nước sông lớn,
Một sợi tơ kéo dài đến đâu thì có mấy đoạn quấn quýt.
(Phần thứ nhất của khối tình con)
2. Một từ 'xin' được diễn đạt một cách chân thành và thấu hiểu, như lời van xin:
'Có ai đã ngồi dưới cung quế chưa?
Cành đa mong chị nhớ đến và đến chơi với nó.'
Hai câu đã làm rõ chủ đề 'Muốn làm thẳng Cuội' tại nơi cung trăng, cung quế. Câu hỏi tuôn trào gợi nhiều cảm xúc sâu xa. 'Cành đa' đã trở thành thang leo lên chín tầng mây xanh để 'chị nhắc lên chơi' cung quế. Đó là giấc mộng thoát khỏi cuộc sống khó khăn. Mộng vì chán đời, mệt mỏi. Mộng mang trong mình sự phủ định:
'Nghĩ đời nhiều lúc không bằng mơ,
Tiếc nuối giấc mơ bao nhiêu cũng ngán đời'
(Nhớ mơ mộng)
3. Chỉ khi đạt đến cung quế mới thấy nhẹ lòng, mới cảm thấy hạnh phúc. Có chị Hằng làm bạn đồng hành. Có gió, có mây làm bạn đồng hành. Sử dụng điệp ngữ (có, cùng) và phép đối một cách sáng tạo, kết hợp cả tiểu đối và bình đối. Sự chuyển đổi nhịp điệu 2/2/3 tạo ra một giai điệu thơ nhí nhảnh, phấn khích. Sự đậm nét của vần thơ tạo nên một tinh thần lãng mạn trong lòng người đọc:
'Có thai, có bạn, không có gì đáng buồn,
Chỉ khi có gió, có mây, cuộc sống mới thực sự vui vẻ'
Đúng như nhận xét của nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn “Tán Đủ thi sĩ” (1939): 'Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ tinh tế với những cảnh vật mơ hồ, những hình ảnh lờ mờ, ông vẽ ra những bức tranh tuyệt đẹp; với những tư tưởng cao thượng, với những cảm xúc lãng mạn, ông tạo nên những câu thơ tuyệt vời...'.
4. Tính cách kiêu hãnh, phóng túng của thi sĩ đã đạt đến đỉnh cao. Đêm trăng tháng tám, là đêm Trung thu tuyệt vời nhất. Không còn buồn bã vì cô đơn, thi sĩ được bên chị Hằng: “Hai ta cùng nhìn xuống thế gian cười vui”. Hành động 'tựa nhau' và nụ cười đó cũng là một ước mơ đẹp. Dù có chút mỉa mai (đối với thế gian) nhưng vẫn đầy thú vị vì được thoát khỏi, được thỏa mãn trong cung quế:
'Mỗi năm, đến ngày rằm tháng tám,
Hai ta cùng nhìn xuống thế gian và cười vui'
Kết thúc với sự thoát li. Một cách diễn đạt phong phú, tài năng. Đọc bài thơ 'Hầu Trời' mới thấy được sự tinh tế, sự thú vị của bài 'Muốn làm thằng Cuội'. Giữa đêm, Tản Đà tỉnh dậy, đun nước để pha trà, rồi ngâm thơ... Nghe giọng ngâm, Trời sai hai tiên nữ xuống trần gian đón thi sĩ bay lên. Thi sĩ trình bày thơ cho Trời và các tiên nghe. Tất cả đều hết lời khen ngợi:
“Văn đã phong phú, đa dạng
Trời cũng bật cười khi nghe!
Chư tiên ao ước tranh nhau phê bình
Anh định một mình bước lên chợ của Thiên đình.
(Dưới bóng trời)
Tản Đà đã sáng tạo ra một bài thơ độc đáo và lôi cuốn với tựa đề 'Muốn trở thành Cuội'. Với sự nhẹ nhàng và du dương của lối thơ, bài thơ khơi gợi sự tưởng tượng phong phú và kỳ diệu. Tinh thần mơ mộng và màu sắc lãng mạn len lỏi khắp trong bài thơ.
Mặc dù nói về nỗi buồn và cảm giác chán chường, thậm chí là sự mong muốn thoát khỏi, nhưng bản chất của bài thơ là một sự phản kháng chống lại hiện thực xã hội của thời đại phong kiến, một khát khao được sống trong một thế giới trong sạch hơn, cao quý hơn, nơi mà cái đẹp và sự cao thượng luôn được trân trọng. Điều quan trọng của bài thơ 'Muốn trở thành Cuội' chính là ở đó.
Nhận định về bài thơ Muốn trở thành Cuội của Tản Đà - Mẫu 02
Người ta ghi nhận về Tản Đà với nhiều ấn tượng sâu sắc: ông là nhà thơ mở đầu cho trào lưu thơ lãng mạn, là người kết nối thơ cổ điển với thơ hiện đại. Trong cái lãng mạn đó, ông truyền tải tư tưởng, tình cảm và lòng yêu nước sâu sắc. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội là một minh chứng rõ ràng. Như chúng ta đã biết, xã hội mà ông sống quá quan trọng tiền bạc và vị trí xã hội. Tài năng, cống hiến, tình cảm sâu sắc không mang lại hạnh phúc cho con người. Bên trong mọi thứ là nỗi buồn về hiện thực. Tản Đà đã đưa ra một lời kêu gọi, một thông điệp gửi đến chị Hằng - người bạn đồng hành của những người cô đơn:
Đêm thu u ám chị Hằng ơi!
Cuộc sống hiện tại của em đã chán nản.
Bài thơ bắt đầu bằng một lời thở dài, một trái tim buồn thương. Tình cảm gần gũi xen lẫn với sự trào phúng vì cuộc sống không hề dễ dàng, đầy gian nan vì vinh quang không trọn vẹn: Với tài cao, số phận thấp, lòng kiên định vẫn bị trói buộc. Với tư cách là một nhà thơ, nỗi buồn đã trở thành nỗi đau. Đây là một tâm trạng không chấp nhận hiện thực, không hoà hợp với thế giới xung quanh.
Ông ao ước một cuộc sống tốt đẹp hơn, vượt lên trên sự nhỏ nhen:
Ai đã từng ngồi dưới bóng cây quế chưa?
Hãy nhớ đến cành đa và mời chơi cùng chúng tôi.
Đó là thế giới mà Tản Đà mơ ước, là một thế giới trong trẻo, trong sạch, không gian phải lo lắng, không phải bận rộn, không cần phải vật lộn. Hai dòng thơ là một câu hỏi, một đề nghị, một lời van xin được đưa lên cung trăng, nơi thanh cao và không bị gò ép bởi cuộc sống xô bồ của thế gian. Nỗi buồn của Tản Đà là nỗi buồn của một tâm hồn bị giam cầm. Trước sự thực tại không mong muốn, Tản Đà mong ước trốn tránh vào thiên nhiên thông qua những ảo mộng:
Có bạn bên cạnh, có bầu trời và đám mây làm bạn
Cùng hưởng thụ sự tự do mới thực sự vui vẻ
Khi nhà thơ được lên cung quế cùng bạn bè, anh ấy quên đi những nỗi buồn và thất vọng, và giải tỏa nỗi u sầu - anh ấy đã vui, đã cười - cười với tất cả những cảnh tranh, nhố nhăng của cuộc sống, cười với sự sung sướng khi nhìn thấy thế giới không ai có được như anh ấy, được sống trong một thế giới thần tiên mà không cần phải bận tâm đến vấn đề vật chất.
Hai dòng thơ cuối cùng thật độc đáo và lãng mạn:
Mỗi khi đến ngày rằm tháng tám
Ngồi bên nhau nhìn xuống thế gian mỉm cười.
Rằm tháng tám là thời điểm mặt trăng sáng nhất, đẹp nhất và cũng là lúc trăng lấp lánh nhất. Trong khoảnh khắc tuyệt vời đó, nhân vật trữ tình mong ước được cùng chị Hằng; ngồi bên nhau tựa vai nhìn xuống thế gian để cười.
Những dòng thơ cao cả này thực sự phản ánh được bản tính ngạo mạn của Tản Đà. Ngồi bên cạnh người đẹp, đó chính là hạnh phúc tột cùng. Hơn nữa, nhà thơ còn tự đặt mình ở vị trí cao để biểu diễn sự châm biếm. Sự ngạo mạn này hiếm có, đáng yêu và đáng trân trọng trong thời kỳ đó. Các nhà thơ lãng mạn yêu nước thường không đủ dũng cảm để đấu tranh - họ thường tìm đến thiên nhiên hoặc mơ mộng để trốn tránh cuộc sống.
