
Với các nghiên cứu về kinh tế - xã hội từ những năm 80 - 90 của thế kỷ trước, tác giả Phạm Viết Đào đã tổng hợp lại thành cuốn sách Bóng tối bên trong cơ chế thị trường. Qua cuốn sách, chúng ta có thể thấy rõ những “bóng tối” của mặt kinh tế thị trường kể từ khi Việt Nam bắt đầu quá trình đổi mới, từ đó nhận thức được một cách khách quan về những hạn chế trong chính sách phát triển kinh tế của đất nước sau khi đạt được độc lập.
Đã hơn 20 năm trôi qua kể từ khi cuốn sách Bóng tối bên trong cơ chế thị trường được xuất bản. Không có gì để tranh cãi khi nói rằng đây là một cuốn sách cổ. 20 năm đã đủ để thấy được sự thay đổi lớn của nền kinh tế Việt Nam. Những chuyển biến tích cực đã đem lại cho nền kinh tế sự tăng trưởng đáng kinh ngạc, giúp đất nước ngày càng tăng cường vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, sự tăng trưởng luôn đi kèm với những hạn chế. Điều này cũng đúng với Việt Nam cách đây 20 năm.
Nhưng ở phía ngược lại, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã kéo theo nhiều hệ lụy không nhỏ đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam vào thời điểm đó.Những kẻ hoạt động như Mafia: Nhuộm đen bằng đồng, rửa trắng tiềnNhững Nguy Cơ Ẩn Trong Cơ Chế Thị Trường: Hậu Quả Của Sự Thành Công Nhanh Chóng
Theo quan niệm phổ biến quốc tế, Mafia được xem là nhóm người hoạt động bất chính, sống ngoài vòng pháp luật, thực hiện các hoạt động như cướp giật, buôn bán hàng hóa cấm như ma túy, vũ khí, kinh doanh hệ thống mại dâm,... Mafia được gọi như vậy bởi những hoạt động này thường được tổ chức, được một số quan chức, nhà lãnh đạo công cộng hỗ trợ và che chở. Ở một số quốc gia, Mafia thậm chí có thể đưa các thành viên của mình vào các vị trí quan trọng trong chính phủ nhờ khả năng rửa tiền và 'làm sạch' tiền bẩn. Trong khi ở các nước có tổ chức Mafia lâu đời, họ thường sử dụng tiền bất chính để đầu tư vào thương mại quốc tế, xuất nhập khẩu và bất động sản. Nhờ vào việc này, họ có thể biến tiền bẩn thành tiền sạch và biến các bọn trùm Mafia thành các doanh nhân lớn, thậm chí chuyển từ vai trò chủ doanh nghiệp sang chính trị trong thời gian ngắn.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa có tổ chức Mafia nhưng có những nhóm tội phạm tổ chức với cách làm tương tự như Mafia. Một trong những hành động phổ biến của họ là lôi kéo cán bộ nhà nước vào các hoạt động không pháp. Một số hành động phổ biến của họ là tìm kiếm cách lợi nhuận không công bằng và tẩy rửa tiền bẩn để đầu tư. Tuy nhiên, cách làm này thường không giống như cách Mafia quốc tế.
Trong khi Mafia quốc tế biến tiền bẩn thành tiền sạch thông qua hoạt động buôn lậu vũ khí, ma túy, cướp nhà băng và hối lộ các quan chức nhà nước để đầu tư vào doanh nghiệp, ở Việt Nam, nhóm tội phạm xã hội đen thường làm ngược lại. Thay vì làm sạch tiền, họ thường cố gắng biến tiền sạch thành tiền bẩn.

Hành động này phản ánh đặc điểm của nền kinh tế và hình thức quản lý xã hội tại Việt Nam. Một số doanh nghiệp nhà nước hoặc các cơ quan thuộc nhà nước có lợi nhuận lớn thường sử dụng tiền của mình như tiền bẩn, rồi chuyển sang làm sạch nó. Mặc dù tiền này là hợp pháp ban đầu, nhưng sau khi 'làm sạch', nó thường trở thành tiền tư nhân. Họ thường làm điều này bằng cách tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư bất động sản.
Những đứa trẻ lầy lội ở Hà Nội
Nghề chăn trâu, dường như đã là một hình ảnh khá hữu tình và đôi khi đầy thú vị, mà nhiều người nghĩ chỉ tồn tại và phát triển ở vùng quê, liên quan đến những cánh đồng xanh mướt. Dường như trong thời đại công nghiệp và kinh tế thị trường hiện nay, với sự phát triển của các phương tiện truyền thông hiện đại, nghề chăn trâu sẽ không còn được coi trọng như trước. Nhưng không phải là vậy!'
Gần đây, nghề chăn trâu, chăn bò đã mở rộng ra khỏi vùng quê và không còn là đặc quyền của thanh niên nông thôn mà đã lan rộng đến một số thành phố như Hà Nội.
Hàng ngày, lượng thịt bò tiêu thụ tại Hà Nội là rất lớn, cần hàng trăm con bò được giết để đáp ứng nhu cầu của người dân.
Nếu bạn muốn xem, hãy đến vùng Mai Động, nơi mỗi ngày hàng trăm con bò được dắt dọc theo sông Kim Ngưu.
Ở Mai Động, dù không có đủ cỏ để nuôi hàng trăm con bò mỗi ngày, nhưng cách chăm sóc của người dân địa phương vẫn giữ được sự hấp dẫn như trước!
Cách chăm sóc bò của người Mai Động bây giờ là: Mỗi ngày, hàng trăm đứa trẻ được phân công đi dắt bò từ các vùng quê lân cận về Hà Nội để bán. Đây không chỉ là một công việc thú vị mà còn có mức lương khá cao.

Các chủ lò mổ tính toán kỹ lưỡng khi chọn sử dụng trẻ em dắt bò thay vì các phương tiện vận chuyển khác như xe tải. Việc này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn tránh được các vấn đề pháp lý và thuế phí.
Trong quá khứ, người dân Hà Nội đã trở nên sành ăn hơn, với thịt bò tươi không quá đắt đỏ, nhờ vào cách chăm sóc độc đáo của những đứa trẻ nông thôn tại phường Mai Động, nằm trong nội thành Hà Nội.
Trong khi mọi người cho rằng giá điện cao là do điện thất thoát, thì bà con nông dân không đồng ý với quan điểm này.
Thời gian khoảng 20 năm trước, sau các làng quê, chúng ta bắt đầu thấy nhiều dàn ăng-ten vô tuyến hơn. Sự thay đổi này đã làm cho cuộc sống ở nông thôn trở nên sáng sủa hơn, nhưng cũng mang theo nhiều lo lắng cho bà con nông dân.

Để có điện trong nhà, bà con nông dân phải chi ra một khoản tiền không nhỏ. Điện cũng đồng nghĩa với việc phải mua TV để không phải đi xem ở hàng xóm.
Chi phí điện mỗi năm tương đương với khoảng hai tạ thóc, hay khẩu phần ăn của một đứa trẻ trong một năm. Để trả tiền điện, bà con nông dân phải bán hai con lợn tạ mỗi năm.
Bên cạnh đó, bà con nông thôn còn phải đối mặt với việc đóng góp tiền cho các sự cố điện như sự cố đường dây hoặc biến thế.
Ngược lại với hoàn cảnh khó khăn của bà con nông dân về tiền điện, đây lại là cơ hội cho các đơn vị thầu điện ở vùng nông thôn để làm giàu một cách bất hợp pháp.
Bà con biết rằng có những trục trặc trong việc cung cấp điện nhưng không ai dám bênh vực họ. Với mỗi hộ dân bị tính giá cao, toàn xã cũng phải đóng một số tiền không nhỏ.
Ngày xưa, người ta dựa vào thu nhập từ nông nghiệp, nhưng bây giờ thì 'món ăn' lớn nhất là tiền điện. Việc 'ăn cắp' tiền điện dễ dàng hơn rất nhiều so với việc ăn cắp lúa thóc.
Vấn đề thất thoát trong xây dựng cơ bản thường bắt nguồn từ các văn bản pháp luật không rõ ràng.
Các văn bản pháp luật về xây dựng cơ bản thời bấy giờ thường chứa nhiều điều khoản mâu thuẫn nhau, làm cho quy trình thực hiện trở nên phức tạp.

Ví dụ, trong việc quy định áp dụng đơn giá, các văn bản thường gây hiểu lầm về việc nào là có hiệu lực và việc nào bị loại trừ.
Đối với việc cải tạo xây dựng trong khu vực nội thành, các hệ số áp dụng cho chi phí trực tiếp là:
- Hệ số 1,04 được áp dụng cho chi phí vật liệu.
- Hệ số 1,05 được áp dụng cho chi phí lao động.
Quy định này vẫn còn chưa hoàn hảo, dễ bị lợi dụng. Có những đơn vị phá dỡ nhà cấp 4 để xây nhà cao tầng, khi phá dỡ đã tính công, đào móng lại tính đào đất trong điều kiện khó khăn để nhân thêm hệ số.
Khi xảy ra tham nhũng trong việc xây dựng, những người quản lý tiền trước Chính phủ phải chịu trách nhiệm đầy đủ. Nếu không, họ nên được gọi là 'nhà cấp phát' thay vì những người quản lý.
Lại nói về hạt gạo
Nhớ những ngày chúng ta đang chiến đấu chống lại Đế quốc Mỹ, toàn dân đoàn kết hợp sức mạnh để đánh bại kẻ thù xâm lược. Mọi người dân đều sẵn lòng làm việc gấp đôi, gánh cơm chia phần. Có khẩu hiệu: 'Mỗi người làm việc như hai, hai người ăn cơm như một. Tất cả vì đồng bào miền Nam thân thương'. Khẩu hiệu này không chỉ làm tăng thêm niềm tin ở mỗi con người Việt Nam mà còn khiến cho họ căm ghét hơn với kẻ xâm lược, từ đó càng gắn bó hơn với chính quyền, với Đảng và Nhà nước.
Cuộc chiến tranh kết thúc với chiến thắng lịch sử, toàn dân hân hoan đón chào ngày 30/04/1975. Nhưng sau năm 1975, các nước đồng minh đã giảm bớt viện trợ cho Việt Nam. Thiên tai liên tục xảy ra, và Nhà nước không có cơ chế khuyến khích người nông dân gắn bó với ruộng đất, khiến người nông dân miền Bắc gặp nhiều khó khăn. Ở Nam Bộ, những người nông dân đã gắn bó với cuộc cách mạng để giành lại từng mảnh đất, nhưng bây giờ họ lo lắng và đau khổ vì cơ chế bó của Nhà nước.
Dân ta có tiềm năng để đưa đất nước đến sự phồn thịnh, miễn là có cơ chế đúng. Nhật Bản là một ví dụ điển hình, họ luôn bảo trợ cho nền nông nghiệp dù đầu tư cho nó tốn kém. Điều này không phải là để bảo vệ bản sắc kinh tế, mà để thúc đẩy sản xuất. Đó là lý do vì sao Chính phủ Nhật Bản đã mở cửa thị trường gạo và gây ra những biến động mạnh mẽ trong xã hội.

Chính phủ cần có một cơ chế linh hoạt hơn để khuyến khích người nông dân gắn bó với ruộng đất và tăng sản xuất, góp phần tạo ra nhiều cải tiến cho xã hội. Cơ chế đúng sẽ tạo ra hiệu ứng tích cực, và đó là trách nhiệm của Chính phủ trong việc giải quyết vấn đề nông nghiệp của đất nước.
Và không chỉ thế
Trên đây chỉ là một phần nhỏ của những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi bước vào thị trường quốc tế và chuyển sang kinh tế thị trường cách đây hơn 20 năm. Nhưng 'bản cáo trạng' Mặt trái của cơ chế thị trường của Phạm Viết Đào không dừng lại ở đó!
“Bản cáo trạng” của Phạm Viết Đào chỉ có khoảng 350 trang nhưng đã chỉ ra tổng cộng 39 mặt trái còn tồn tại khi chúng ta chấp nhận mở cửa đón nhận làn sóng quốc tế từ những năm 80 – 90 của thế kỷ trước. Mặc dù cuốn sách đã được xuất bản hơn hai thập kỷ trước, nhưng giá trị tham khảo của nó vẫn còn nguyên vẹn. Bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay đã thay đổi rất nhiều so với thời điểm đó, và các mặt trái của thời bấy giờ cũng đã được giảm bớt, thậm chí bị “tiêu diệt” ở thời điểm hiện tại. Vậy giá trị của cuốn sách này nằm ở điều gì?
Thứ nhất, nó đã minh họa một cách rất chi tiết về các khía cạnh khó khăn của nền kinh tế thị trường trong quá trình tiến triển của Việt Nam. Nó cho chúng ta thấy rằng kinh tế – xã hội Việt Nam đã từng gặp khó khăn như thế nào.
Thứ hai, thông qua việc nhìn nhận những khó khăn của thời bấy giờ và so sánh với bối cảnh hiện tại, chúng ta có thể thấy được sự hiệu quả của những nỗ lực từ Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình tiến triển lên xã hội chủ nghĩa và chấp nhận nền kinh tế thị trường. Rõ ràng, trong tiến trình đổi mới của đất nước từ sau chiến tranh và chế độ bao cấp, vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc điều hành kinh tế là không thể phủ nhận.
Cuối cùng, giá trị của cuốn sách nằm ở những câu chữ chân thành của tác giả Phạm Viết Đào. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, để viết ra “bản cáo trạng” Mặt trái của cơ chế thị trường, chúng ta đã biết được tầm vị tri thức của Phạm Viết Đào. Không sai khi nói rằng ông là một tri thức tiên tiến của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Xã hội chủ nghĩa.Kết luận
Rất hứng khởi và sôi nổi trong việc viết cuốn sách Mặt trái của cơ chế thị trường, tác giả Phạm Viết Đào không có ý định chỉ trích một quá trình không thể đảo ngược trong cuộc sống kinh tế – xã hội đã từng tồn tại trên lãnh thổ và tạo ra sự biến đổi sâu sắc trong bối cảnh xã hội Việt Nam cách đây 20 năm – quá trình tiến triển lên nền kinh tế thị trường hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua cuốn sách, ông muốn đóng góp suy nghĩ và nhận thức của mình vào quá trình hoàn thiện và đầy đủ hóa tiến triển này. Ông mạnh dạn tổng hợp và công bố suy nghĩ phong phú về nhiều khía cạnh của “mặt trái của cơ chế thị trường”. Sau khi quyết định thực hiện đổi mới vào năm 1986, chúng ta đã chấp nhận con đường cơ chế thị trường để phát triển kinh tế quốc gia, thay thế cho hệ thống kinh tế bao cấp có quá nhiều hạn chế tồn tại. Và để đạt được mục tiêu đó, quá trình này phải được bảo đảm và được thừa nhận bởi các thiết chế văn hóa và pháp luật của xã hội chủ nghĩa. Nhưng làm thế nào Chính phủ có thể xây dựng một hệ thống thiết chế và pháp luật hoàn chỉnh nếu không biết được rằng bên ngoài xã hội thực tế đang tồn tại những “hạt sạn” nào cần được loại bỏ? Sẽ có nhiều cách để các nhà lập pháp Việt Nam thời điểm đó tìm ra những hạn chế đó, và một trong những cách hiệu quả nhất chính là đọc và suy ngẫm “bản cáo trạng” Mặt trái của cơ chế thị trường của Phạm Viết Đào.
Người sáng tác: DO
