
Truyền thống văn hóa Việt Nam thường sử dụng ngôn từ hoa mỹ, lời lẽ uy nghi để diễn đạt, nhưng Nguyễn Công Trứ trong 'Bài ca ngất ngưởng' lại khác biệt hoàn toàn. Ông đã biểu hiện bản thân từ những sự kiện, những trải nghiệm đời thường mà chỉ riêng ông mới có. Trong bài thơ này, ông liên tục nhấn mạnh hai từ 'ngất ngưởng'. 'Ngất ngưởng' không chỉ là một từ ngữ mô phỏng, mà còn trở thành biểu tượng cho tính cách của một con người không ngẫu nhiên. Trên hàng trăm bài thơ, trong đó có sáu mươi mốt bài ca trù, chỉ có bài này tác giả đặt tên là 'Bài ca ngất ngưởng'. Nguyễn Công Trứ đã được công nhận là một thanh niên, một quan lại, một tướng lĩnh, một cụ già ngất ngưởng. Sự ngất ngưởng đã in sâu vào thời đại của ông.
Nguyễn Công Trứ, giống như nhiều nhà học truyền thống trước đây, đều học từ cửa Khổng, quanh sân Trình. Ông luôn là một tín đồ trung thành của triết học Khổng Tử:
“Dù có mười vạn lý lẽ, tôi vẫn kiên định
'Không nên quá coi trọng việc con trai phải làm người trong quân tử'.
Ông cũng hiểu rằng: một trong những nguyên tắc cốt lõi của nhà nho là phải xử thế một cách trung dung, không quá phô trương. Tuy nhiên, Nguyễn Công Trứ đã vượt qua giới hạn, vượt xa những gì mà người thường coi là điều cần thiết... Có lẽ không một nhà nho nào giống như Nguyễn Công Trứ; ông đã đưa tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống hàng ngày của một người quân tử, của một kẻ sĩ lên một tầm cao triết lý. Trong văn thơ của ông, ông đã nói về nhiều loại nợ: nợ tiền vay, nợ phúng viếng, nợ cuộc sống xa hoa, nợ những vấn đề trần tục, nợ sự nghiệp anh hùng, nợ danh tiếng. Mọi loại nợ đều phải trả, phải vay, và vay lại... Nguyễn Công Trứ đã so sánh chính mình với cây cầu:
“Kinh đóng một cột tay che chở
Dù có gió thổi, cũng không rung động”
Hoặc như một chiếc trống lớn:
“Cung phụ bước ra giang hồ,
Sóng núi vang tiếng vang vang”.
Nếu không có khả năng sáng tạo đó, làm sao có thể nghĩ đến những khúc mắc như vậy, và làm thế nào để đương đầu với những trách nhiệm trong cuộc sống? Sự thật là với mỗi khoản nợ, Hi Văn tiên sinh cũng “bày tỏ tài kinh tế”, cũng “biểu hiện sự phê phán”, cũng “đạt được danh tiếng lớn”. Tính cách 'ngất ngưởng', tính cách 'quyết đoán' của Nguyễn Công Trứ nằm ở việc: ông sống thực tế với bản thân, với mọi người và với cuộc đời. Các nhà văn thường viết về những điều phổ biến, tập trung vào vai trò của một người quân tử; nhưng về bản ngã thì không được đề cập hoặc chỉ được giấu kín dưới dòng chảy của “Văn là đạo”. Riêng văn thơ của Nguyễn Công Trứ khác biệt: ông không che đậy, không tránh né, ông sống cuộc sống như thế nào thì văn thơ của ông cũng phản ánh lại như vậy. Chẳng hạn như khi đã trên bước đường phong trần, qua tuổi ngoài bảy mươi, ông vẫn mang trách nhiệm của một người phong lưu, quen với tình thế đa mối:
“Say sưa rượu mừng, văn thơ tung bay,
Có tình mới đẹp, mới trọn đầy”
Từ đó, có thể thấy Nguyễn Công Trứ là một trong những nhà thơ lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam viết về tình yêu với nhiều tác phẩm như “Yêu hoa”, “Duyên gặp gỡ', “Vịnh chữ tình', “Vịnh sầu tình”, cùng “Tương tư”, “Bỡn cô đào'... Tình yêu với thơ và sự mê mẩn với phong cảnh là hai đặc điểm nổi bật của Nguyễn Công Trứ. Ông luôn coi mình là một người thưởng thức tốt. Ông từng nói “Trong tuần, có nhiều lần tôi tham gia hoạt động giải trí... Nhưng không phải ai cũng nhạy bén như tôi”. Dù đã già lão, ông vẫn không ngừng khuyến khích: 'Hãy tận hưởng tuổi trẻ trước khi nó qua đi', “Nếu không tận hưởng, đến lúc mất đi, ai sẽ bù lại?'... Nguyễn Công Trứ luôn giữ vững tinh thần “gìn giữ phẩm hạnh'. Tính cách của ông luôn đề cao sự nhất quán. Tâm hồn đầy tự tin, sự mạnh mẽ và kiêu hãnh của Nguyễn Công Trứ là biểu hiện của một cá nhân tự tin, có ý thức rõ ràng về bản thân mình giữa một thời kỳ biến động:
Khi nghỉ hưu ở quê nhà, ông thường di chuyển cùng “Đạc ngựa vàng đeo ngất ngưởng'. Nhưng điều đặc biệt hơn cả là ở phía sau lưng con bò cái vàng, ông đặt một tấm vải mo cau, khi được hỏi ông nói rằng “để che giấu tâm trạng của mình với thế gian'. Nhiều câu chuyện kể về việc “Vành tiên theo đủng đỉnh một người phụ nữ'. Ông thường thăm các chùa, từ gần như chùa Cấm Sơn trên núi Đại Nại, đến xa như chùa Hương Tích, chùa Thiên Hương trên núi Hồng Lĩnh, luôn có một vài cô hầu gái theo sau “Mặc dù ông người ta cũng cảm thấy khó chịu'...
Tính cách, sự ngất ngưởng, sự tự phụ của Nguyễn Công Trứ là biểu hiện của một con người tự tin, khẳng định tài năng của mình và có nhận thức rõ ràng về bản thân giữa thời kỳ biến động:
“Dù thành công hay thất bại... không bị ràng buộc bởi vấn đề vật chất'.
Lâu nay, mọi người thường nghĩ rằng văn thơ của Nguyễn Công Trứ chứa đựng nhiều mâu thuẫn; thực ra, nó rất đồng nhất, rất nhất quán. Sự ngất ngưởng trong tác phẩm của ông là một biểu hiện của tính cách, của một bản lĩnh trong cuộc sống và sáng tạo nghệ thuật. Sự ngất ngưởng đó không chỉ thuộc về Nguyễn Công Trứ mà còn là sản phẩm của một thời đại Nguyễn, của một vùng quê, của người con xứ Nghệ. Ba mươi năm làm quan, bảy lần bị thất sủng, giáng chức, không hề làm suy giảm bản chất của ông, ngược lại, nhân cách của ông càng được khẳng định. Ngày nay, khi nhắc đến Nguyễn Công Trứ, chúng ta nhớ đến một “kỹ sư địa chất' đã có công lớn trong việc khai thác, phát triển hai huyện giàu có Tiền Hải, Kim Sơn; nhớ đến một nghệ sĩ tài năng và nhớ đến một cá nhân đã sớm khẳng định bản thân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam - trong đó, bài thơ ca trù “Bài ca ngất ngưởng” là một ví dụ điển hình.
Nguyễn Hữu Định - Học sinh tại Trường Trung học Phan Bội Châu, Thành phố Vinh, Nghệ An
Du lịch của tôi
