Sinh đồ (chữ Nho: 生徒), từ năm 1828 được gọi là Tú tài (秀才), là một loại học vị trong hệ thống giáo dục phong kiến Việt Nam, dùng để chỉ những người đã vượt qua ba kỳ thi Hương (tam trường).
Trong thời kỳ nhà Hậu Lê, mỗi kỳ thi Hương có 4 phần (trường thi) kéo dài khoảng một tháng, nội dung thi bao gồm:
- Kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa;
- Kỳ II: chiếu, chế, biểu;
- Kỳ III: thơ phú;
- Kỳ IV: văn sách.
Sau mỗi kỳ thi, bài thi được chấm ngay. Thí sinh đỗ kỳ nào sẽ tiếp tục dự thi kỳ sau; nếu trượt, phải rời cuộc thi. Đỗ kỳ III nhưng không qua kỳ IV sẽ nhận danh hiệu sinh đồ. Đỗ cả bốn kỳ sẽ nhận danh hiệu hương cống, và năm sau có thể dự thi kỳ thi Hội nếu muốn.
Danh hiệu Hương cống và Sinh đồ được vua Lê Thánh Tông đặt ra vào năm 1466. Đến năm 1828, vua Minh Mạng đã đổi tên Sinh đồ thành Tú tài (秀才). Cống sĩ được bổ nhiệm làm quan, còn Sinh đồ (Tú tài) đủ điều kiện để dạy học.
Các nhân vật nổi bật
- Đặng Trần Thường (1759-1813): đạt danh hiệu Sinh đồ vào khoảng 30 tuổi, từng làm Binh bộ Thượng thư dưới triều Nguyễn.
- Nguyễn Du (1766–1820): đạt danh hiệu Sinh đồ khi 18 tuổi, là quan lại thời Lê-Trịnh và Nguyễn, một đại thi hào và danh nhân văn hóa thế giới.
- Phạm Đình Hổ (1768 - 1839): đạt danh hiệu Sinh đồ khoảng 21-22 tuổi, vào cuối triều Lê Chiêu Thống; là tác giả của Quốc triều hội điển và Vũ trung tùy bút.
- Phan Huy Chú (1782 – 1840): đạt danh hiệu Sinh đồ qua tam trường các khoa thi Hương (1807, 1819), vào khoảng 26 và 38 tuổi; từng làm quan ở Hàn lâm viện Thị độc, là nhà thư tịch và bác học Việt Nam.
- Trần Tế Xương (1870-1907): đạt danh hiệu Sinh đồ qua tam trường khoa thi Hương khi 25 tuổi, là một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam.
| Khoa bảng | ||
|---|---|---|
| Thi Hương | Thi Hội | Thi Đình |
| Giải nguyên | Hội nguyên | Đình nguyên |
| Hương cống Sinh đồ |
Thái học sinh Phó bảng |
Trạng nguyên Bảng nhãn Thám hoa Hoàng giáp Đồng tiến sĩ xuất thân |
