| Lưỡi | |
|---|---|
Lưỡi người | |
| Chi tiết | |
| Tiền thân | pharyngeal arches, lateral lingual swelling, tuberculum impar |
| Động mạch | lingual, tonsillar branch, ascending pharyngeal |
| Tĩnh mạch | lingual |
| Dây thần kinh | Sensory: Anterior 2/3: lingual nerve & chorda tympani Posterior 1/3: Glossopharyngeal nerve (IX) Motor Innervation: - CN XII (Hypoglossal) except palatoglossus muscle CN X (Vagus) |
| Bạch huyết | Deep Cervical, Submandibular, Submental |
| Định danh | |
| Latinh | lingua |
| MeSH | D014059 |
| TA | A05.1.04.001 |
| FMA | 54640 |
| Thuật ngữ giải phẫu [Chỉnh sửa cơ sở dữ liệu Wikidata] | |
Dao là bộ phận vị giác nằm trong miệng của động vật có xương sống. Ở động vật có vú, dao là một khối cơ vân chắc, bọc ngoài bởi lớp da phân lớp, phía dưới là lớp mô nối. Mặt trên của dao có nhiều nhú cảm giác (nhú cảm giác), các nhú này chứa các cơ quan hoá học nhạy cảm với các chất hoá học có trong dung dịch. Dao được chia thành nhiều vùng khác nhau tương ứng với khả năng cảm giác vị giác khác nhau.
Ở hầu hết động vật, dao gắn với phía sau của miệng và có thể được thò ra phía trước để di chuyển. Ở cá, dao là một nếp gấp của mô để hỗ trợ trong quá trình nuốt. Một số loài lưỡng cư như ếch, cóc có dao gắn ở phía trước miệng, với đầu dao có nhánh và có thể mở rộng ra để bắt côn trùng.
Một phần của cơ thể người, được nghiên cứu giải phẫu

Lưỡi có hình dạng gần như một hình tam giác - rộng ở đáy, dài ra và nhọn ở đỉnh, đáy hoặc rễ của nó gắn chặt vào hàm dưới và vào xương móng của xương sọ. Các mép rễ của lưỡi được nối vào các thành của hầu, tạo thành một khoang phía sau miệng.
Phần giữa của lưỡi có bề mặt trên cong, trong khi mặt dưới của nó liền mạch nối với sàn miệng qua một dải mô mỏng - hàm lưỡi. Đầu lưỡi có thể tự do di chuyển nhưng khi người không ăn hay nói, nó thường nằm yên trong miệng, đầu lưỡi được tựa vào răng phía trước. Các chuyển động của lưỡi được điều khiển bởi các cơ mà nó được hình thành và các cơ mà nó nối vào, theo cách mà lưỡi gắn vào trong miệng.
Chính lưỡi có những sợi cơ chạy dọc và ngang, các cơ này có khả năng tạo ra các chuyển động nhất định, tuy nhiên, linh hoạt của lưỡi là do sự co bóp của nhiều cơ nằm trong cổ và hai bên hàm. Ví dụ: Cơ trục lưỡi ở cổ, giúp lưỡi di chuyển lên trên và về phía sau; hoặc cơ móng lưỡi, cũng nằm ở cổ, điều khiển lưỡi hạ xuống và trở lại vị trí bình thường.
Khi ăn, nhiệm vụ chính của lưỡi là đưa thức ăn đến răng để nhai và nghiền thức ăn thành mẩu nhỏ sẵn sàng để nuốt. Các chuyển động này diễn ra bằng cách cong lên và cong xuống. Khi nhiệm vụ hoàn thành (hoặc khi người ăn nuốt thức ăn), lưỡi đẩy mẩu thức ăn vào hầu phía sau miệng, từ đó thức ăn đi vào thực quản và sau đó vào dạ dày.
Lưỡi và sức khỏe của nó
Ở con người, một số bệnh thường thấy qua lưỡi như lưỡi đỏ trong bệnh thương hàn; lưỡi trắng, phồng lên trong bệnh tiêu hóa; lưỡi nhẵn với các nhú vị giác trong bệnh thiếu máu Biecme (tên theo thầy thuốc người Đức A. Biecme); lưỡi đỏ, phù nề trong dị ứng với thuốc. Trong Đông y, việc khám lưỡi là một phần của vọng chẩn (nhìn); nó biểu thị một số tình trạng bệnh lý của phủ tạng, biến đổi của bệnh tật.
Vị giác
Lưỡi nằm bên trong miệng và là một phần quan trọng của cơ thể. Mặt trên của lưỡi có những hạt sần sùi, những hạt này được gọi là gai lưỡi. Gai lưỡi gồm những 'núm' vị giác. Cuống lưỡi có những sợi tế bào giống như tóc. Ở đầu lưỡi có những sợi tế bào thần kinh. Những sợi này liên kết với dây thần kinh vị giác.
Theo quan niệm phương Đông, ngoài 04 vị chính: 'đắng, chua, mặn, ngọt' còn có cảm giác cay, tạo thành 'ngũ vị'. Thực ra, cay không phải là một vị. Cảm giác cay lan ra mũi, khiến ta hắt hơi và nhỏ nước mắt khi ngửi một quả ớt, là do chất capsaicin gây ra. Cảm giác cay do mũi ngửi nhiều hơn là do lưỡi nếm. Chát cũng không phải là một vị. Đó chỉ là cảm giác khi niêm mạc bị khô và dẫn đến se nước bọt trên lưỡi.
Một chất phải tan trong nước, lưỡi mới có thể nhận ra vị của nó. Lưỡi người cực kỳ nhạy với vị đắng. Khi nếm thuốc ký ninh loãng 1/1.000.000, lưỡi bắt đầu cảm nhận vị đắng. Tuy nhiên, với vị chua, nồng độ phải lên tới 1/800.000 lưỡi mới nhận ra. Với vị mặn, ngưỡng cảm nhận là 1/900. Lưỡi nhạy nhất với vị ngọt, cần phải pha nước đường đặc 1/100 lưỡi mới có thể cảm nhận được.
Tất cả các vị khác là sự kết hợp của các vị chính đã đề cập. Bốn vị chính này được cảm nhận bởi mọi phần của lưỡi. Việc cảm nhận các vị khác nhau ở các vùng khác nhau đã được chứng minh là sai lầm. Điều này là một trong những sai lầm lớn nhất trong xã hội hiện đại.
Vị của thức ăn chỉ có thể được cảm nhận khi nó ở dạng lỏng. Khi nhai, thức ăn hòa tan trong nước bọt kích thích các gai vị giác, các sợi tế bào thần kinh truyền tín hiệu vị giác đến trung tâm vị giác trong não. Ngoài lưỡi, mũi của chúng ta cũng có khả năng ngửi được mùi của thức ăn. Ngửi mùi cũng là một phần của vị giác.
Khi chất lỏng đi vào miệng, lưỡi cảm nhận thông qua các 'dây thần kinh mùi vị'. Tín hiệu mùi vị được truyền lên não và chúng ta cảm nhận được vị của thức ăn. Chúng ta không thể cảm nhận chính xác mùi vị khi bị cảm lạnh, sốt hoặc táo bón (khó tiêu hoá), bởi vì các gai vị giác lúc đó bị phủ bởi chất dịch và không được kích hoạt. Nhiệt độ của cơ thể hoặc thậm chí nhiệt độ của thức ăn cũng không kích hoạt các gai vị giác.
Do đó, khi bị bệnh, chúng ta thường không muốn ăn. Số lượng các gai vị giác trên lưỡi của người lớn khoảng 5000 gai, trong khi trẻ em có ít hơn nhiều. Khi lão hóa, các gai này mất đi khả năng và số lượng cũng giảm đi. Ở tuổi 70, chỉ còn khoảng 40 gai vị giác. Như tế bào da, chúng luôn được thay thế. Mỗi 10 ngày, các gai vị giác sẽ được thay thế.
Chú thích
Liên kết ngoài
- Lưỡi trong Từ điển Bách khoa Việt Nam
- Thông tin thú vị về lưỡi bạn 4/12/2007 08:49 GMT+7
- Chế độ ăn ngọt hay đắng tùy thuộc vào lưỡi bạn 12/9/2005 14:39 GMT+7 T. An (theo AFP)
- Đánh giá tính cách bằng nước chanh 6/8/2004 07:00 GMT+7 Minh Thi (theo BBC)
