
Khi Thế chiến thứ hai đang đến hồi kết, Việt Nam chứng kiến một bi kịch lịch sử: Nạn đói năm Ất Dậu (1945) đã khiến cho hơn 2 triệu người Việt mất đi cuộc sống. Đây không chỉ là biến cố tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại của Việt Nam, mà còn là một trong những cơn đói kinh hoàng nhất từng diễn ra trên thế giới, một vết sẹo đau lòng trong tâm trí dân tộc.
Tiếp theo quyển sách 'Thế chiến thứ hai' của nhà sử học Antony Beevor; Omega+ hợp tác với NXB Chính trị Quốc gia tái bản quyển sách về sự kiện này, cuốn sách 'Nạn đói năm 1945 tại Việt Nam: Những ghi chép về lịch sử'. Điều đặc biệt, cuốn sách này được hai học giả, một người Việt và một người Nhật cùng viết: GS. Văn Tạo & GS. Furuta Motoo, dựa trên lượng tư liệu đồ sộ và các phân tích khoa học - như một cử chỉ 'bắt tay' trong hiện tại để cùng bình tĩnh nhìn lại quá khứ. Một quá khứ không được lưu giữ để nuốt lời thù hận nhưng cũng không thể lơ đãng qua.
Trong năm 1945, cơn đói khủng khiếp lan rộng từ miền Bắc Việt Nam, từ tỉnh Quảng Trị trở ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng so sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của cuộc chiến tranh Pháp- Đức, Ông viết “Nạn đói còn kinh khủng hơn nạn chiến tranh. Ví dụ, trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chỉ mất đi 1 triệu người, nước Đức chỉ mất khoảng 3 triệu người. Thế mà, nạn đói chỉ trong nửa năm ở Bắc Bộ chúng ta đã mất hơn 2 triệu người…” (Trích lời kêu gọi chống nạn đói năm 1945 của Chủ Tịch Hồ).
Đã trôi qua hơn 70 năm, nhưng trong tâm trí của người dân Việt Nam, nạn đói năm 1945 vẫn là một cơn ác mộng, một nỗi đau khó phai, khó quên. Khắp nơi, người ta vẫn thấy những xác chết đói. Trong 70 năm vừa qua, những ngôi mộ tập thể vẫn là nỗi đau đớn, ám ảnh không nguôi của bao thế hệ. Trong tâm trí nhiều người vẫn còn giữ lại hình ảnh những chiếc xe bò chở xác trên những con phố Hà Nội vào buổi sáng, hình ảnh những người chết nằm trên các con đường, hình ảnh những người kiệt sức, còng lưng xếp hàng dài đi xin ăn…
Cuốn sách 'Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam: Những chứng tích lịch sử' sẽ rõ ràng phân tích bức tranh lịch sử của Việt Nam trong giai đoạn tối tăm nhất này. Đây là một công trình khoa học được thực hiện kỹ lưỡng, nghiêm túc, là kết quả của ba đợt điều tra và khảo sát thực tế quy mô vào các năm 1992, 1993 - 1994, 1994 - 1995 tại 23 điểm thuộc 21 tỉnh, thành phố từ tỉnh Quảng Trị trở ra. Các tác giả đã nghiên cứu và khảo cứu kỹ lưỡng, tìm hiểu chi tiết các tư liệu lịch sử, khảo sát trực tiếp các địa điểm xảy ra nạn đói, phỏng vấn những nhân chứng lịch sử để xây dựng lại bức tranh về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam; đã làm sáng tỏ số lượng hơn 2 triệu người chết đói và nguyên nhân dẫn đến nạn đói. Tác phẩm nhằm cung cấp cho độc giả một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống những chứng tích về sự mất mát, đau thương mà người dân Việt Nam phải chịu trong lịch sử.
Theo số liệu ghi nhận từ cuốn sách 'Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam: Những chứng tích lịch sử' của GS. Văn Tạo và GS. Furuta Moto, tại xã Tây Lương (thuộc Tiền Hải- Thái Bình) - nơi mà nạn đói diễn ra nặng nề nhất, 66,66% dân số của xã đã mất đi vì đói, trong đó có nhiều gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ mất hết.
Về cảnh chết đói: Dưới đây là bức thư của Vespy vào tháng 4 năm 1945, viết về cảnh chết đói mà ông đã chứng kiến: 'Họ đi thành đoàn dài không thể nào kết thúc, gồm cả trẻ em, người già, đàn ông và phụ nữ, mỗi người trong số họ đều gầy guộc, toàn thân trơ trọi, gầy còm, da dẻ xơ xác, thậm chí cả những cô gái trẻ cũng vậy. Đôi khi họ dừng lại để lau mắt cho một người đã ngã xuống và không thể đứng dậy nữa, hoặc để lấy mảnh vải rách để che cho người đó. Nhìn những hình ảnh đó, xấu hổ hơn cả những con thú xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm ven đường chỉ với vài cọng cỏ rơm làm chăn, mọi người đều cảm thấy xấu hổ về con người'.
Về số người chết đói ở các địa phương, trong 50 năm qua có rất nhiều thông tin mà cho đến nay vẫn chưa được khám phá hết. Có nhiều tin tức được công bố trong thời gian đó. Ví dụ, một số tin tức đã được cập nhật kỹ lưỡng và nhiều người biết đến.
Trong số báo Thanh Nghị số 110 xuất bản ngày 25-5-1945, tác giả bài viết, ký tên là Phạm Gia Xích viết: '... Đối với một thị trấn Thượng Cẩm, nằm trong phủ Thái Ninh, tỉnh Nam Định, năm trước đây có 900 hộ gia đình nhưng tính đến ngày 29-5 năm nay, số người chết chỉ còn lại 400, và tính cả nam, nữ, trẻ em, người già thì trong thị trấn này gần 4.000 người, số người chết vì đói mất 2.000 người...'
Dựa vào tư liệu phong phú được xử lý một cách nghiêm túc và hiếm có, công trình này đã tái hiện lại tình hình đói kém của người Việt, đồng thời phân tích sâu sắc tội ác của phát xít Nhật. Với sự hợp tác từ đội ngũ tri thức của cả hai quốc gia, đây là một công trình chuyên sâu duy nhất mang đến cái nhìn sâu sắc về sự thật lịch sử về cảnh đói kém năm 1945 tại Việt Nam. Được công bố lần đầu vào năm 1995, cho đến nay đã gần 30 năm, cuốn sách 'Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam: Những bằng chứng lịch sử' vẫn giữ nguyên giá trị của nó.
Việc nghiên cứu về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam và những hậu quả của nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với các nhà nghiên cứu lịch sử để hiểu rõ hơn về sự kiện lịch sử đã xảy ra mà còn giúp lên án tội ác của chủ nghĩa phát xít, sự tàn bạo của chiến tranh và thúc đẩy hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, hòa bình, hợp tác và phát triển; là bạn đồng hành, đối tác đáng tin cậy và thành viên tích cực trong cộng đồng quốc tế, đóng góp vào công cuộc hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn cầu.
GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ
- Giáo sư VĂN TẠO: Ông là Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam từ năm 1980 đến năm 1989. Trải qua hơn nửa thế kỷ hoạt động nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Văn Tạo đã để lại một di sản khoa học đáng kinh ngạc với gần một trăm cuốn sách do ông biên soạn, chủ biên hoặc tham gia biên soạn, hơn 200 bài viết được công bố trên nhiều tạp chí, trong các hội thảo khoa học cả trong và ngoài nước.
- GS. FURUTA MOTOO: Ông là Viện trưởng Viện Cao học Văn hóa tổng hợp và cũng là Hiệu trưởng Trường Đại cương, Đại học Tokyo; Phó Giám đốc Thường trực của Đại học Tokyo; Giám đốc Thư viện của Đại học Tokyo; Phó Chủ tịch của Hội Hữu nghị Nhật - Việt; Chủ tịch của Hội Nghiên cứu Đông Nam Á của Nhật Bản. Các giải thưởng mà ông đã nhận được bao gồm: Huy chương Hữu nghị (năm 1980); Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Công nghệ (năm 2012); Huân chương Hữu nghị (năm 2013).
