Nhận diện sớm dấu hiệu khiếm thính ở trẻ nhỏ
Bài viết được chấp bút cùng Thạc sĩ Bác sĩ Dương Văn Sỹ - Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Quốc tế Mytour Hải Phòng.
Trẻ khiếm thính là những phó nhòm thính giác ưu tú ở nhiều cấp độ độc đáo. Với cơ quan thính giác bị tổn thương, trẻ mất kết nối với thế giới âm thanh, không tiếp xúc được với tiếng nói và khó khăn trong việc hình thành ngôn ngữ. Việc phát hiện và chăm sóc khiếm thính từ sớm với những phương pháp đặc biệt sẽ mở ra cơ hội cho trẻ phát triển những tài năng bẩm sinh của mình.
1. Nguyên nhân gây ra khiếm thính ở trẻ
Nguyên nhân gây ra khiếm thính ở trẻ có thể xuất phát từ giai đoạn trước, trong và sau khi sinh:
1.1 Nguyên nhân xảy ra trước khi sinh
- Khuyết tật bẩm sinh: Dạng tai bất thường, vòng tai không đầy đủ
- Nhiễm trùng trong thai kỳ (cảm lạnh, bệnh sởi hoặc các virus khác).
- Lịch sử gia đình với khiếm thính di truyền, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của tai.
1.2 Trong quá trình sinh
- Sinh non dưới 6 tháng
- Trọng lượng dưới 2kg
- Chấn thương não do can thiệp sanh nở.
1.3 Sau khi sinh
- Nhiễm trùng như viêm màng não mủ, sởi, quai bị, viêm não.
- Bệnh tai như viêm tai giữa cấp hoặc mạn tính.
- Nhiễm độc thần kinh thính giác từ một số loại thuốc (gentamicin, streptomycin, quinin..)
- Chấn thương đầu, tổn thương vùng đầu như va chạm, nứt hộp sọ.
Khi trẻ gặp các vấn đề trên, nếu có dấu hiệu nghe kém, chảy mủ tai hoặc đau tai, phụ huynh nên đưa trẻ đến kiểm tra và điều trị tại các chuyên khoa tai mũi họng.
2. Dấu hiệu nhận biết khiếm thính ở trẻ
Dấu hiệu của thiếu thính lực ở từng đứa trẻ có thể không giống nhau và mức độ thính lực cũng khác nhau. Một số bé có thể khóc và thể hiện sự bất an khi nghe bất kỳ âm thanh nào, trong khi một số bé khác vẫn hoạt bát bình thường và thậm chí không có dấu hiệu nào đặc biệt. Tuy nhiên, cha mẹ có thể nhận diện dấu hiệu khiếm thính ở trẻ qua những biểu hiện sau đây:
2.1 Đối với trẻ sơ sinh - 3 tháng tuổi
- Không giật mình khi nghe thấy âm thanh lớn.
- Không có phản xạ với âm thanh, âm nhạc hoặc giọng nói. Không hướng về nguồn âm thanh.
- Không cảm nhận thoải mái với âm thanh dịu dàng, êm dịu.
- Không giật mình hoặc thức dậy khi có giọng nói hoặc tiếng ồn trong khi đang ngủ trong môi trường yên tĩnh.
- Sau 2 tháng, trẻ vẫn không phát ra được những nguyên âm đơn giản như ô, a...
- Nghe quen với những giọng nói nhưng lại cảm thấy lạ, không an tâm.
2.2 Đối với trẻ 4 - 8 tháng tuổi
- Không quay đầu hoặc hướng mắt về phía âm thanh mà trẻ không nhìn thấy.
- Trong môi trường yên lặng, trẻ không thay đổi biểu hiện đối với các cấp độ âm thanh hoặc tiếng ồn lớn.
- Không hứng thú với đồ chơi rung, chuông hoặc đồ chơi phát ra tiếng.
- Ở 6 tháng tuổi, bé không cố gắng bắt chước để tạo ra âm thanh nào đó.
- Trẻ nhìn chăm chú khi nghe người khác nói chuyện, thường phải hỏi lại hoặc phải nhìn vào miệng để hiểu từ.
- Chưa thể "nói xấu" với bản thân hoặc phản ánh khi nghe lời người khác nói chuyện.
- Không phản ứng khi nghe lệnh không/ không được cũng như cảm nhận giọng điệu của lời nói.
- Chỉ nghe được một số âm thanh cụ thể nào đó.
- Cảm nhận được tiếng rung nhưng chỉ đối với một số tiếng động nhất định.
- Quay lại vì thấy cha mẹ chứ không phải vì được gọi, có thể gây hiểu lầm là trẻ đang lơ đãng hay bị lạc lõng. Điều này có thể là dấu hiệu của mất khả năng thính lực hoàn toàn hoặc một phần.
2.3 Đối với trẻ từ 9 - 12 tháng
- Không phản ứng khi được gọi tên.
- Không thay đổi giọng điệu khi tự nói chuyện với chính mình.
- Không quay đầu nhanh chóng hoặc hướng mắt đến nguồn âm thanh.
- Không nói được một số phụ âm như m, p, b, g...
- Không tương tác với âm nhạc bằng cách lắng nghe, nhảy hoặc ôm theo bài hát.
- Trẻ bắt đầu nói muộn hoặc giữ lại trước mọi âm thanh. Đến 1 tuổi mà vẫn chưa nói các từ đơn như da da, ma ma, ta, ta, và thậm chí có thể nói ngọng.
- Không hiểu một số từ chỉ các đồ vật thông thường hàng ngày, hoặc không thực hiện một số động tác khi nghe tín hiệu như đưa tay chào khi nghe từ "tạm biệt," hoặc làm theo hướng dẫn như "đến đây," cười...
- Thích xem TV to.
Bố mẹ cần thông báo ngay với bác sĩ và đưa trẻ đi kiểm tra nếu phát hiện bất kỳ dấu hiệu nào trên.
3. Các phương pháp chẩn đoán
3.1 Cách kiểm tra khả năng nghe từ 6 tháng đến 3 tuổi
Để nhận biết dấu hiệu khiếm thính ở trẻ sơ sinh, có thể thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Đặt trẻ nằm ngửa trên giường, người kiểm tra đứng ở phía đầu trẻ, cách khoảng một nửa mét.
Bước 2: Tạo ra tiếng động bằng cách vỗ tay hoặc lắc đồ chơi... để xem trẻ có quay đầu về hướng âm thanh không. Thực hiện lại 3 lần và quan sát phản ứng của trẻ.
3.2 Kiểm tra khả năng nghe từ 3 tuổi trở lên
Bước 1: Đặt trẻ ngồi quay lưng lại kiểm tra, lần lượt bịt tai từng bên và nói từng từ đơn, với âm lượng bình thường để trẻ nhớ lại. Nếu trẻ nhớ lại đúng 4 - 5 lần có thể coi là khả năng nghe bình thường.
Bước 2: Làm lại với tai bên kia.
Bước 3: Nếu phát hiện trẻ nói sai hoặc không nhớ lại các âm thanh nói, cần đưa trẻ đến các đơn vị chuyên môn để đo lường khả năng thính lực.
3.3 Đo lường khả năng thính lực
Mục tiêu của đo lường khả năng thính lực là để đánh giá chính xác sức nghe của trẻ, tìm ra nguyên nhân của việc giảm thính lực. Từ đó, có thể chọn phương pháp khắc phục: cho trẻ đeo máy trợ thính hoặc phẫu thuật. Giúp lựa chọn loại máy trợ thính phù hợp với trẻ.
Nếu phát hiện trẻ bị khiếm thính sớm và chăm sóc kịp thời, khả năng hồi phục cao, đặc biệt là đối với trẻ dưới 2 tuổi. Do đó, khi cha mẹ phát hiện dấu hiệu của mất thính lực ở trẻ, hãy đưa trẻ đến các cơ sở y tế, bệnh viện uy tín để kiểm tra thính lực và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp.
Để đặt lịch hẹn tại viện, quý khách vui lòng gọi số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch hẹn tự động trên ứng dụng MyMytour để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.
