Đề bài: Hãy Khảo sát Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang để đánh giá tài năng nghệ thuật của Huy Cận trong việc xây dựng nội dung và hình thức thơ.
1. Dàn ý
2. Mẫu số 1
3. Mẫu số 2
Khám phá Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang
Bí quyết Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ giúp đạt điểm cao
I. Tóm tắt Phân tích Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang
2. Bước vào vấn đề
Giới thiệu về bài thơ Tràng giang và vẻ đẹp cổ điển và hiện đại hiện hữu trong bài thơ
2. Cơ thể bài thơ
* Vẻ đẹp cổ điển:
- Tên gọi “Tràng giang” – từ ngôn từ Hán Việt tỏ ra sắc thái cổ kính, uy nghi khiến cho dòng sông trở nên như chảy từ một thời xa xưa của lịch sử và thấm đẫm bao ánh sáng cổ thi.
- Sử dụng ý thơ của những nhà thơ cổ xưa kèm theo những hình ảnh thân thuộc trong thơ cổ để tô điểm cho bức tranh của “Tràng giang” với gam màu cổ điển.
- Hình ảnh của “sóng gợn” đề cập đến những đoạn thơ của Đỗ Phủ - vị “thi thánh” trong văn học Trung Hoa ở bài “Đăng cao”.
- Đưa vào bài thơ những hình ảnh thú vị trong thơ cổ như “thuyền-bến”, cánh chim
- Nghệ thuật đối của thơ Đường được tác giả sử dụng một cách sáng tạo.
* Vẻ đẹp hiện đại:
- Hình ảnh, âm thanh chân thực của cuộc sống: củi khô, bèo dạt, tiếng vãn chợ buổi chiều
- Tác giả trình bày trực tiếp nỗi buồn, nỗi sầu, những trăn trở thông qua lời nói sáng tạo mang tính cá nhân (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn dợn…)
3. Tổng kết
Nhận định tổng quan
II. Mẫu văn Phân tích Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang
1. Phân tích Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang, mẫu số 1:
Trong phong trào thơ mới 1932-1945, chúng ta đã biết đến một Xuân Diệu luôn mang theo mình nỗi ám ảnh thời gian, trong khi Huy Cận lại được biết đến là nhà thơ luôn chìm đắm trong nỗi ám ảnh không gian. Và nỗi ám ảnh ấy được thể hiện qua một bài thơ rất nổi tiếng của Huy Cận và cũng là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của phong trào thơ mới giai đoạn 1932-1945, đó chính là Tràng Giang.
Huy Cận (1909-2005), tên thật là Cù Huy Cận, quê quán tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Sinh ra trong một gia đình nho gia nghèo, ông là một trong những tác giả có học vấn vững chắc và bài bản nhất trong phong trào thơ mới, 20 tuổi đỗ tú tài, 24 tuổi trở thành một kỹ sư canh nông. Ông tham gia vào cách mạng khá sớm khi mới 23 tuổi, ông là một trong những người hiếm hoi kết hợp được sự nghiệp chính trị và văn chương đầy ấn tượng. Sự sáng tạo của ông được chia thành hai giai đoạn, trước cách mạng ông được biết đến là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới với tập Lửa thiêng, tập thơ đầu tay vinh danh ông trong phong trào thơ mới, sau cách mạng Huy Cận đã có một thời gian dài dừng lại, sau đó vào năm 1958 ông đã quay trở lại với tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá. Phong cách nghệ thuật của Huy Cận là sự giao thoa giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại, trong nội dung là sự xen kẽ giữa nỗi buồn của vũ trụ, của thế nhân với nỗi cô đơn của cá nhân, về nghệ thuật là sự kết hợp giữa hệ thống thi pháp thơ Đường và những nét thi pháp của thơ tượng trưng Pháp.
Tràng giang được xuất bản trong tập thơ Lửa thiêng, phát hành vào năm 1940, đây là sự hòa trộn của một nỗi buồn vô hạn và vẻ đẹp của dòng sông mênh mông sóng nước vừa cổ điển, vừa hiện đại, trên bầu trời rộng lớn, dưới dòng sông dài.
Những bài Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ Tràng giang tốt nhất
Đọc toàn bài thơ, chúng ta đã nhận ra ngay vẻ đẹp cổ điển và hiện đại hiện hữu trong cả nhan đề và lời đề từ. Với nhan đề Tràng giang, rõ ràng đây là một từ Hán Việt với hai âm mở 'ang', âm thanh khi phát ra gợi lên những cảm giác về một không gian cao, xa, rộng lớn của một con sông hun hút chảy đến cuối trời, mang đến cho độc giả sự tĩnh lặng, cùng nỗi buồn mênh mang mờ mịt, đậm chất cổ điển. Lời đề từ: 'Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài' vừa thấu hiểu cảm xúc vừa tóm tắt cả tình và cảnh một cách tinh tế, thể hiện được nỗi buồn thời đại của tác giả trước cảnh thiên nhiên rộng lớn, mang tầm vóc vũ trụ, đồng thời là nỗi buồn cô đơn trước khung cảnh quá mức mênh mang, vô định. Nỗi sầu của tác giả là một nỗi sầu vừa cổ điển vừa hiện đại, hiện đại ở chỗ Huy Cận sầu cho bản thân, sầu cho cái 'tôi' đầy cô đơn của mình, cổ điển ở chỗ nhà thơ lấy cái hoàn cảnh gây nên cái sầu đó chính là thiên nhiên trầm lặng, rộng lớn, giống với nhiều nhà thơ cổ thường đem nỗi buồn gởi gắm vào thiên nhiên, 'Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ'.
Chúng ta lần lượt phân tích rõ cái vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại ấy qua từng khổ của bài. Ở khổ thơ đầu tiên đó là bức tranh sông nước buồn vắng.
'Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.'
Câu đầu tiên ta thấy là một bức tranh mà ở đó có hai đối tượng được tác giả tái hiện, đó là thiên nhiên 'sóng gợn tràng giang', giữa một dòng sông vừa rộng lại vừa dài lại chỉ có những gợn sóng lăn tăn do gió thổi nhẹ mà nên, gợi cho ta cảm giác thật tĩnh lặng và khoáng đạt của dòng sông. Cụm 'buồn điệp điệp' vừa tái hiện tâm trạng của thiên nhiên, lại cũng vừa tái hiện tâm trạng của lòng người. Hình ảnh 'Con thuyền xuôi mái nước song song' thật lặng lẽ, êm đềm và có chút xót xa vương vấn, bởi ở ngay câu sau đó là hình ảnh xuôi ngược, chia lìa của hai sự vật vốn dĩ chung đôi 'thuyền về nước lại', điều đó đã gợi lên một mối 'sầu trăm ngả', dường như nỗi sầu đã lan rộng cả lòng sông. Câu thơ cuối đoạn, có lẽ là câu thơ nhấn mạnh nhất nỗi buồn của tác giả 'Củi một cành khô lạc mấy dòng', rõ ràng câu thơ chỉ tả một cành củi khô, lênh đênh trên sóng nước, nhưng nghĩ kỹ ta sẽ mường tượng ra tâm hồn khô héo và cô đơn, vô định của tác giả. Đây là hình ảnh thơ mang nét hiện đại, ở chỗ so với những hình ảnh ước lệ khác như thuyền, nước hay sóng, thì hình ảnh củi khô gần như lạc quẻ, tuy nhiên chính nó đã đem lại nét phá cách cho cả bài. Chung quy lại nỗi buồn của tác giả là một nỗi buồn nhuốm màu cổ điển lại cũng có nét hiện đại, buồn mênh mang bao trùm lên cả cảnh vật, bởi rõ trong mắt người buồn chẳng có cảnh nào vui là thế. Đồng thời nhịp điệu của đoạn thơ cũng mang đậm màu sắc cổ điển ở những từ láy 'điệp điệp', 'song song', một bút pháp thường thấy trong Đường thi.
'Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.'
Ở khổ thơ tiếp theo, tác giả miêu tả những thứ khác, sử dụng nhiều từ láy như 'lơ thơ', 'đìu hiu', 'chót vót', kết hợp với những hình ảnh đối lập như 'Nắng xuống, trời lên', 'Sông dài, trời rộng', tạo nên một nét đẹp cổ điển đậm đà. Cảnh vật và hoạt động diễn ra đều mang nét buồn sâu lắng, cồn lơ thơ, gió đìu hiu, làng xa vãn chợ chiều, sông dài, trời rộng, bến cô liêu, gợi lên cảm giác cô đơn trong sắc tĩnh lặng cổ điển. Nét hiện đại ở đây là sự chuyển dịch cảm giác đầy thú vị và độc đáo 'Nắng xuống, trời lên sâu chót vót', tạo ra một nét phá cách hiện đại mà những vần thơ cổ không thể có.
'Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.'
Khổ thơ này có một hình ảnh rất cổ điển, bèo tượng trưng cho sự lênh đênh và vô định của đời người, và có rất nhiều cánh bèo như thế 'hàng nối hàng', thể hiện cái nỗi buồn rợn ngợp của tác giả trước cảnh 'Mênh mông không một chuyến đò ngang'. Câu thơ tiếp theo tác giả trực tiếp thể hiện cảm xúc: 'Không cầu gợi chút niềm thân mật', là nét hiện đại trong thơ. Câu cuối 'Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng' phiếm chỉ sự cô đơn cùng cực, chỉ toàn bờ bãi nào có một tâm hồn khác.
'Mây đọng trên núi bạc, chim nhỏ khẽ vờn cánh,
Quê hương dạt dào trong dòng nước, hoàng hôn êm đềm;
Nhớ nhà dù không có khói, lòng vẫn đong đầy nhớ thương.'
Trong khổ thơ cuối, ta thấy nhiều nét cổ điển, nhưng từ 'đùn' lại mang nét hiện đại, tạo sự động đậy cho bài thơ. Hình ảnh chim nghiêng cánh mang lại ý thức thời gian và buồn bã. Những dòng cuối thể hiện sự giản dị và rõ ràng của tác giả, đồng thời là nét hiện đại của tâm hồn Huy Cận.
Tràng Giang là một tác phẩm xuất sắc của Huy Cận, thể hiện vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của thiên nhiên, cũng như nỗi buồn xa quê, nhớ nhà của tác giả. Bài thơ phản ánh tình yêu quê hương sâu sắc của Huy Cận.
2. Phân tích Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang, mẫu số 2:
“Thơ mới” đã xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam như một dàn ca đa cảm, với những “tôi” cá nhân riêng. Trong thế giới đa cảm ấy, Huy Cận nổi tiếng với hồn thơ buồn đến mức “ảo não”. Trong bài thơ “Tràng giang”, chất cổ điển và hiện đại kết hợp qua từng câu chữ, hình ảnh, thi pháp, thể hiện rõ nỗi buồn sâu thẳm của tác giả, tình yêu quê hương thầm lặng.
Phong vị cổ điển của bài thơ hiện lên rõ qua nhan đề “Tràng giang”. Tác giả sử dụng từ Hán Việt để tạo nên sắc thái cổ kính, trang trọng, khiến cho dòng sông như chảy từ thời xa xưa, thấm nhuần bao áng cổ thi. Sự lặp lại của âm “ang” tạo nên cảm giác dòng sông vô tận, mênh mang.
Hướng dẫn Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng giang
Xuyên suốt bài thơ, vẻ đẹp cổ điển và hiện đại hòa quyện một cách tinh tế qua từng khổ thơ, từng câu chữ, hình ảnh. Ở khổ thơ đầu tiên, tác giả sử dụng ý thơ của tao nhân xưa cùng những hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ để tạo nên bức tranh của “Tràng giang” gam màu cổ điển.
“Sóng tràng giang lăn tăn buồn điệp
Thuyền trôi nhẹ bề mặt nước lặng
Thuyền về bến lại, buồn vạn ngả
Cành củi lạc mất, nước trôi xa”
Từ câu thơ đầu tiên, phong cách cổ điển hiện lên qua hình ảnh “sóng tràng giang”, nhắc nhở đến vần thơ của Đỗ Phủ, “thi thánh” trong văn học Trung Hoa, trong bài “Đăng cao”:
“Vô biên mộc lạc gió phiêu phiêu
Bất tận dòng sông cổn cổn trôi”
(“Rì rào lá cỏ rung reo vắng vẻ
Dòng sông cuồn cuộn sóng nước chảy”)
(Trích từ “Đăng cao”- Đỗ Phủ)
Nếu Đỗ Phủ tả thiên nhiên qua sự đối lập của sóng nước trong rừng cây thăm thẳm, Huy Cận lại dùng nghệ thuật đối xứng “buồn điệp điệp”- “nước song song”. Từ láy như “điệp điệp”, “song song” vừa diễn đạt sóng nước, vừa thể hiện tâm trạng con người, được đặt cuối mỗi câu thơ một cách tinh tế, âm vang lan tỏa. “Tràng giang” với muôn sóng nhỏ, nỗi buồn vô hình của thi nhân hiện hữu hình. “Thuyền” và “nước”, hai khái niệm gần gũi, đối xứng: thuyền “xuôi mái” trôi, sóng không đập vào thuyền mà là “nước song song”. Nghệ thuật đối của thơ Đường linh hoạt, cân đối, tạo nên cảnh vật tĩnh lặng phong cách cổ điển. Trong hai câu thơ sau, bên vẻ đẹp cổ điển, bài thơ lại hiện đại qua hình ảnh: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Huy Cận thả trên dòng tràng giang một cành củi khô, biện pháp đảo ngữ nhấn mạnh sự khô héo, lạc lõng, tâm trạng cô đơn giữa không gian bao la.
Khi rời sông, thi nhân quan sát tràng giang:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”
Sắc cổ điển tiếp tục hiện diện trong vẻ đẹp tự nhiên qua từ ngữ, hình ảnh, và ngôn từ. Trên những cồn cát nhỏ, gió 'đìu hiu' mang nặng tâm trạng của nhân vật trữ tình. Từ ngữ 'đìu hiu' được vận dụng khéo léo, lấy cảm hứng từ 'Chinh phụ ngâm': 'Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo/ Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò'. Sự ảnh hưởng từ thơ văn cổ không chỉ tạo nên gam màu cổ điển mà còn làm nổi bật tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Chất cổ điển và hiện đại hoà quyện rõ ràng trong khổ thơ cuối của bài. Cảnh vật được miêu tả với phong cách thơ cổ, đưa ra hình ảnh chim trong hoàng hôn.
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”
Trong thơ cổ, hình ảnh chim thường điểm xuyết bức tranh thiên nhiên vào buổi chiều tà. Chúng ta thường gặp hình ảnh này trong ca dao và nhiều tác phẩm văn học trung đại.
“Chim về núi trong bóng tối”
(Ca dao)
“Chim buổi chiều thoi thót về rừng”
(Truyện Kiều)
Trong thơ cổ, cảm xúc buồn hiu thiu thấu qua việc sử dụng không gian và thời gian. Trong thơ Huy Cận, không gian trời chiều cùng cánh chim mang lại hương vị cổ điển và hồi tưởng đến câu thơ của Vương Bột trong thời Đường: “Lạc hà cô lộ dữ tề phi” (Nắng chiều cùng cánh cò đơn chiếc đang bay). Cánh chim tựa như giọt nắng chiều rơi xuống, vương vấn tâm trạng của thi nhân.
Bức tranh về dòng sông Tràng Giang mở ra những cảm xúc sâu lắng của thiên nhiên và con người. Những nét cổ điển xen lẫn với hiện đại trong bài thơ khiến ta tan vào không gian tĩnh lặng nhưng đầy ý nghĩa.
Nhìn vào bức tranh văn học, ta nhận thấy Tràng Giang không chỉ là một dòng sông mà còn là biểu tượng của nỗi buồn lẫn niềm vui, của sự đời và thăng trầm. Đó là câu chuyện về sự sống và tồn tại.
Tràng Giang không chỉ là đề tài trong sách giáo khoa mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ học sinh và nhà văn. Từ những trang giấy, chúng ta hòa mình vào không gian văn chương đong đầy cảm xúc và ý nghĩa.
