
| Chùa Bà Đanh | |
|---|---|
| Vị trí | |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Địa chỉ | thôn Đanh, Ngọc Sơn, Kim Bảng, Hà Nam |
| Thông tin | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Tông phái | Phật giáo đại thừa Tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng thờ Tứ pháp |
| Cổng thông tin Phật giáo | |

Đền Bà Đanh tọa lạc tại thôn Đanh, Ngọc Sơn, Kim Bảng, Hà Nam, có diện tích khoảng 10ha.
Đền hướng về phía Nam, nhìn ra sông Đáy. Phía ngoài là cổng tam quan, tiếp giáp với con đường và gần bờ sông. Công trình có nền cao, xây dựng trên năm bậc với hai đầu được bịt đốc. Tam quan bao gồm ba gian và được chia thành hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái lợp ngói nam, xung quanh sàn gỗ là các trấn song con tiện. Tầng này dùng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cửa gỗ lim.
Lịch sử
Chùa Bà Đanh và Núi Ngọc nằm ở phía Đông Nam của xã Ngọc Sơn, được bao quanh bởi dòng sông Đáy ở ba mặt. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khu vực chùa Bà Đanh nằm xa khu dân cư, cây cối um tùm và ít người qua lại. Mỗi khi người dân phải lên chùa vào ban đêm, họ thường đốt đuốc và gõ chiêng trống để đuổi thú dữ. Do đó, dân gian có câu: 'Vắng như chùa Bà Đanh.'
Xã Ngọc Sơn được thành lập vào tháng 3 năm 1976, bao gồm bốn thôn: Mã Não, Phương Khê, Đanh Xá và Thụy Xuyên. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mỗi thôn là một đơn vị hành chính xã thuộc tổng Thụy Lôi, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau cải cách ruộng đất năm 1956, xóm Quế Lâm (thuộc thôn Văn Lâm, xã Văn Xá) được nhập vào thành xóm 15.
Vào tháng 4 năm 1986, thị trấn Quế được thành lập và một số xóm của xã Ngọc Sơn được cắt về thị trấn. Hiện tại, xã Ngọc Sơn nằm ở trung tâm huyện lị, trên trục đường giao thông 22 nối từ đường 1A đến chợ Dầu và ngược lên Hà Tây (cũ). Đây là điểm giao thông quan trọng của huyện, thuận tiện đi đến Ninh Bình, Thanh Hóa hoặc ngược lên Hòa Bình.
Các tuyến đường đến di tích bao gồm:
- Từ thành phố Nam Định, di chuyển đến thành phố Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, đi theo đường 22 khoảng 10 km sẽ đến di tích.
- Từ thành phố Phủ Lý, đi đò ngược sông Đáy khoảng 7 km đến bến trước cửa chùa Bà Đanh.
Kiến trúc
Hai cột đồng trụ nhô ra ở hai bên tường ngoài của tam quan, trên đỉnh tam quan là một đôi rồng uy nghi hướng về phía trung tâm. Đối diện cổng chính, cách một đoạn tường ngắn, có hai cổng nhỏ với tám mái, cửa trên có hình cong bán nguyệt. Hàng ngày, khách ra vào chủ yếu qua hai cổng nhỏ này, cổng chính giữa chỉ mở khi có đại lễ.
Đi qua cổng tam quan sẽ thấy khu vườn hoa. Những cây cau cao vươn lên bầu trời xanh và những gốc đại cổ thụ với thân cây gồ ghề tạo nên một không gian cổ kính. Khu vườn trồng các loại cây quen thuộc như mộc lan, nhài, mẫu đơn, làm tăng vẻ đẹp cổ xưa của ngôi chùa.
Trước nhà bái đường là sân gạch rộng rãi. Hai dãy hành lang nằm hai bên sân, mỗi dãy gồm ba gian, khung gỗ lim lợp ngói lam, tường xây bao quanh. Nhà bái đường có năm gian, hai đầu bít đốc, lợp ngói nam và có đôi rồng chầu mặt nguyệt trên bờ nóc.
Tất cả các vì kèo đều được chạm khắc tinh xảo ở cả hai mặt. Các đề tài chạm khắc trên các vì kèo từ đông sang tây bao gồm: Vì kèo 1: mặt hổ phù, thông hóa long, trúc hóa long. Trên xà ngang có chạm khắc quả đào, mai, trúc, nho, lựu, đào và mai, quạt và quả. Vì kèo 2:
- Mặt trước: Hổ phù và nghê chầu hai bên, cùng với hình ảnh mai hóa. Trên xà ngang có chạm khắc quả đào, phật thủ, lựu, hoa hồng, cuốn thư, và con dơi.
- Mặt sau: Chạm khắc ngũ phúc, quả đào, hoa hồng và cuốn thư.
Vì kèo 3:
- Mặt trước: Tứ linh với đề tài lưỡng long chầu nguyệt ở phía trên, xà ngang chạm hoa hồng, cây thông, cuốn thư, kim tiền và đàn sáo.
- Mặt sau: Phía trên chạm tứ linh, xà ngang chạm trúc, mai, hồng và cuốn thư.
Vì kèo 4:
- Mặt trước: Phía trên chạm tứ linh, tùng, mã, mai, và điểu. Xà ngang chạm đàn tranh, đàn nguyệt, sáo và phách.
- Mặt sau: Chạm tứ linh, bầu rượu và cuốn thư.
Vì kèo 5:
- Mặt trước: Chạm khắc ngũ phúc, hoa mai, hoa hồng, đàn tranh, bút lông, quạt và bầu rượu.
- Mặt sau: Chạm ngũ long tranh châu, hoa hồng, hoa lan và mai đá.
Vì kèo 6: (Một mặt áp vào tường đốc) Chạm các hình ảnh như mặt hổ phù, trúc hóa, hoa hồng, quả đào và quả lựu.
Các hình chạm ở đây không có hình bóng con người mà chủ yếu là sự kết hợp của động thực vật, tạo nên các đề tài và hình mẫu hoàn chỉnh. Ngoài hình rồng được sáng tạo từ một con vật tưởng tượng, các động thực vật còn lại đều dựa trên thực tế cuộc sống để thể hiện trong nghệ thuật.
Sự phối hợp khéo léo từ các yếu tố như cây trúc, cây mai đã tạo nên các hình ảnh sống động. Trong một tổng thể, có sự đa dạng và trong cái chung lại thể hiện cái riêng. Đó là sự hòa quyện của đất trời, thiên nhiên và cuộc sống, tạo nên sự hòa hợp trong thống nhất.
Mỗi khóm cây, cành hoa, hay con vật thường không đứng đơn lẻ mà kết hợp thành các đề tài phong phú. Đối với động vật, có các đề tài như tứ linh (rồng, ly, quy, phượng), ngũ phúc (năm con dơi), lưỡng long chầu nguyệt (hai con rồng chầu mặt trời). Đối với thực vật, có tứ quý (tùng, mai, trúc, cúc) và bát quả (đào, lựu, nho, phật thủ, na...). Khi động thực vật kết hợp, thường thấy các đề tài như mai điểu (chim và hoa mai), tùng mã (cây tùng và con ngựa). Ngoài ra, còn có các nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn nhụy, phách, sáo và các đồ vật như quạt, quả vải, tháp bút, ống tiêu, khánh, bầu rượu để tạo nên bát bảo quý giá.
Trên hệ thống sáu vì kèo của nhà bái đường, ngoài hai vì kèo đầu hồi chạm chỉ một mặt do tiếp giáp tường, bốn vì kèo còn lại đều được chạm cả hai mặt. Các mảng chạm này được các nghệ nhân kết hợp phương pháp nhấn chìm và chạm nổi, với đường nét uyển chuyển, bố cục cân đối. Kỹ thuật tinh xảo của các nghệ nhân đã tạo ra những mảng chạm linh hoạt, sinh động, làm tăng giá trị cho khu nhà bái đường.
Nhà trung đường, nối liền với nhà bái đường, cũng có năm gian, hai đầu bít đốc và lợp ngói nam. Phía trước là hệ thống cửa bức màn và chấn song con tiện chắc chắn. Hệ thống vì kèo ở đây là dạng biến thể của vì kèo giả chiên chồng rường con nhị, với các trụ và con rường được chế tác đơn giản, vuông thành sắc cạnh, sắp xếp hợp lý để tạo bộ khung vững chắc.
Nhà thượng điện có ba gian, xây tường bao quanh ở hai bên và đằng sau, còn phía trước là hệ thống cửa gỗ lim. So với nhà bái đường và trung đường, lòng nhà hẹp hơn nhưng xây cao vượt trội.
Từ các hành lang trước chùa qua nhà bái đường đến khu thượng điện, hai bên là các dãy nhà cầu bằng gỗ lim, lợp ngói nam. Nhà cầu nối các công trình lại với nhau và kéo dài đến nhà tổ cùng các công trình phụ khác. Điều này giúp khách hành hương và người trong chùa di chuyển thuận tiện ngay cả khi mưa gió, không ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt.
Phía Tây chùa là khu nhà ngang với năm gian: ba gian giữa thờ các vị tổ đã trụ trì, hai gian đầu hồi được chia thành buồng để các tu sĩ ở. Khu vực này còn có các công trình phụ như bếp và chỗ chăn nuôi. Trước nhà tổ là sân gạch và vườn hoa với cây lưu niên. Phía Đông là phủ thờ mẫu, nằm liền với dãy nhà trung đường, hướng về Tây, và toàn bộ khu vực chùa được bao quanh bởi tường.
Trong nhà thượng đường chùa Bà Đanh, có các tượng thờ như Tam thế, Ngọc Hoàng, thái thượng Lão Quân và Bà Chúa Đanh. Pho tượng Bà Đanh được coi là trung tâm của chùa, với tư thế ngồi thiền trên ngai đen bóng, khuôn mặt hiền từ, nữ tính và gần gũi, không mang vẻ siêu thoát như các tượng Phật khác. Sự kết hợp hài hòa giữa pho tượng và ngai đã tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật đặc trưng của chùa Bà Đanh.
Chùa Bà Đanh là một tổng thể với gần bốn mươi gian (chưa kể nhà cầu) được kết hợp chặt chẽ. Theo truyền thuyết địa phương, chùa được xây dựng từ lâu và đã trải qua nhiều lần tu sửa. Các công trình hiện tại được xây dựng từ thế kỷ 19 đến nay.
Các kiến trúc từ tam quan, hành lang, nhà bái đường đến thượng điện đều được xây dựng theo trục chính, với độ cao tăng dần từ ngoài vào trong, điểm kết thúc là nhà thượng điện. Ngôi chùa từ bố cục đến kiến trúc và chạm khắc đều thể hiện rõ phong cách xây dựng cổ truyền của dân tộc.
Lễ hội chùa Bà Đanh
Từ bao đời nay, lễ hội chùa Bà Đanh được tổ chức vào tháng 2 âm lịch hàng năm để tri ân đức thánh bà Pháp Vũ, một trong bốn vị thần Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Vị thần này được coi là người bảo trợ cho nông nghiệp và đời sống của nhân dân. Lễ hội cũng là dịp để tôn vinh và cảm tạ các vị thần Phật thờ trong chùa đã phù hộ cho cuộc sống của người dân. Ngày diễn ra lễ hội thường được chọn dựa vào tình hình thời tiết và vụ mùa, sau đó thông báo cho ủy ban nhân dân huyện Kim Bảng và công bố rộng rãi. Lễ hội thường kéo dài ba ngày, có thể vào các ngày 9-10-11 tháng 2 âm lịch, hoặc 20-21-22 tháng 2, hoặc 15-16-17 tháng 2 âm lịch tùy vào từng năm.
