
Nhiều câu chuyện thú vị về ăn
Bộ sách Văn hóa Việt, nhìn từ tiếng Việt bao gồm 3 tập, mỗi phần tập trung vào 6 vấn đề như: Chơi chữ chanh chua chan chát chữ (nói về ăn, cách ăn), Lưỡi lươn lẹo lẹ làng lắt léo (về cách nói, cách cười), Dích dắc dặt dìu dư dí dỏm (về việc học, cách sống).
Tục ngữ có câu Học ăn, học nói, học gói, học mở và còn có câu Con đường ngắn nhất đến trái tim người đàn ông là đi qua dạ dày đều cho thấy ẩm thực đóng vai trò quan trọng trong văn hóa Việt. Nhà nghiên cứu Lê Minh Quốc với sự thực tiễn và sự đa nguồn từ từ điển, tự vị đã viết nhiều trang sách về “chuyện ăn” dưới góc độ ngôn ngữ. Từ một câu trong Chinh phụ ngâm: Miệng hài nhi nhớ bữa mớm cơm, diễn tả cảnh đứa bé còn nhỏ được mẹ cho ăn dặm, từ 'mớm', tác giả phân tích: “Nhưng cũng từ mớm đó mà “mớm lời” thì lại là xúi cho kẻ khác nói lời mà mình muốn nói”. Tác giả cũng giải thích nhiều từ ngữ khác về chuyện ăn uống: “Khi bé lớn lên một chút, có thể dùng răng cửa nhấm thức ăn, gọi là “măm”. Một mẹ bảo con: “Sắp đến giờ đi học rồi. Chần chừ mãi. Có lua nhanh đi không?”, ý muốn bảo con và cơm nhanh vào miệng, ăn nhanh. Thế nhưng, “lua láu” lại là ăn nói hỗn hào, cướp lời, chẳng khác gì nhảy vào miệng người khác. Lua nhanh, ăn vội còn gọi là “chèo”. Chèo này là mượn từ động tác Chẳng chèo thì thuyền chẳng đi/Thuyền thì đã nát ván thì long đanh, tức dùng “cây dài, cán tròn, lưỡi giẹp, bản to, quai trên cọc để nạy nước cho thuyền đi tới”, Việt Nam tự điển (1970) giải thích, muốn được thế thì phải chèo liên tục, liền tay, không ngơi nghỉ”. Hay có khi “săn” cũng hàm nghĩa là ăn, trong câu: Chồng người vác giáo săn beo/Chồng em vác đũa săn mèo khắp mâm.
Trong dân gian thường có câu 'Ăn có mời, làm có khiến', nhà nghiên cứu Lê Minh Quốc cho rằng: Ở Huế, khi mời bậc trưởng thượng, họ lại dùng từ 'thời'. Điều này giúp hiểu rõ hơn nghĩa của bài thơ 'Cái quạt' của cụ Nguyễn Khoa Vy: 'Trong cơn nóng nực, ai ai cũng thao thức, không thời đố ngủ yên.'
Một trong những câu ca dao hay nhất, xao xuyến nhất về công ơn của mẹ, theo nhà thơ là: 'Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương.' Thế 'cơm búng' là gì? Tác giả giải thích nhiều góc độ: Là 'cơm nhai nhuyễn để mớm cho trẻ em khi chưa mọc răng hoặc chưa biết nhai'.
Về cách gọi tú tài, ông nghè
Từ câu vần vè tếu táo tồn tại ở miền Nam trước năm 1975: 'Rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con. Bao giờ xong nợ nước non, anh về anh có Mỹ con, anh bồng'
Tuy nhiên, ngoài cách gọi về tú tài vẫn có một số cách gọi khác dành cho sĩ tử ngày trước. Tập kể: 'Trong thi ca trào phúng miền Nam, ở Vĩnh Long có nhà thơ Đỗ Minh Tâm được gọi Nhiêu Tâm. Vậy, nhiêu là gì, do đâu? Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 - 1635) ở Đàng Trong, để tìm nhân tài, ngài cho mở những khoa thi tuyển gọi là Xuân thiên quận thí - chỉ diễn ra một ngày ở các trấn, quận - người thi đậu gọi là Nhiêu học, được miễn thuế 5 năm. Ông Đỗ Minh Tâm thi đậu và được gọi Nhiêu Tâm là vậy. Nhiêu, có nghĩa là miễn, trừ tạp dịch'
Danh hiệu ông nghè vẫn được sử dụng để chỉ tiến sĩ dù không đỗ tại sao? Trong lược khảo về khoa cử Việt Nam của nhà thư mục học Trần Văn Giáp, ông giải thích: 'Ai viết chữ tốt được bổ làm bút thiếp ở Hàn lâm cũng gọi là cậu nghè, nghĩa là lấy tiếng công mà thay vào tiếng tư'.
Vì sao vẫn dùng từ nghè để chỉ tiến sĩ? Năm 1942, nhà văn Chu Thiên giải thích: 'Ở trong cung điện nhà vua, các tiến sĩ vào Đình thí phải đứng dài ra hẳn quá sân, tức là tiến lên vua rồi, cho nên gọi gộp là các ông nghè'.
Tác giả đặt vấn đề về tên phố Lò Sũ của Hà Nội, nếu viết đúng chính tả phải là Lò Xũ; hoặc phải nói 'xôi kinh', chứ không phải 'nấu sử sôi kinh'...
Theo Thanh Niên
