
Năm đầu tiên gia đình tôi thiếu vắng cây đào ngày Tết là năm 2009 - năm ông nội tôi qua đời trong một vụ tai nạn. Tết năm đó, thay vì mua một cây đào với thân mốc xanh và rễ to bằng ngón chân cái, bố tôi đã đặt một bình hoa trắng trong phòng khách. Tôi nhìn thấy nỗi buồn của gia đình có tang trong màu trắng ấy, nhưng đồng thời cũng là hy vọng về tương lai, vài năm sau khi nỗi đau lắng xuống. Bố tôi thỉnh thoảng nói thầm: “chuyện này rồi sẽ qua đi”, câu nói này khuyến khích tôi tin vào những ngày sắp tới. Nụ cười dần xuất hiện khi gia đình quây quần xem Táo Quân vào đêm giao thừa, nghe tiếng pháo nổ vang vọng từ phía Bắc - Hồ Tây, và phía Đông - Hồ Hoàn Kiếm. Tiếc rằng từ đó đến nay, nhà tôi không còn thấy sắc hồng của đào.
Tin tức về các hộ trồng cây Tết ở nhiều nơi mất mùa, bán lỗ hoặc mất trắng xuất hiện ngày càng nhiều. Nhiều chuyên gia cũng tranh luận rằng Tết ta có thực sự cần thiết nữa hay không khi gánh nặng của nó lên nền kinh tế quá lớn. Giữa biển thông tin ấy, tôi tự hỏi tinh thần của Tết nằm ở đâu, ở sắc hồng của đào, sắc cam của quất, sắc vàng của mai, hay một thứ gì đó sâu sắc hơn?
Tôi nhớ những câu chuyện của bà, của bố mẹ và trong cả những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, năm 2000 được nhắc đến như một dấu mốc cho sự chuyển giao. Ở phía bên kia của mốc thời gian - tức là tương lai - người ta mường tượng về xã hội và mong nó trở thành sự thật. Mùa xuân của 30 năm trước, một học sinh trường PTTH Hoàn Kiếm từng vẽ ra một tương lai như thế này: “Năm 2000? Tôi hình dung và mong nó đúng như hình dung của mình. Lúc đó con người trong xã hội biết sống vì nhau, tốt hơn với nhau, không nhỏ nhen và vụ lợi như bây giờ. Mọi người độ lượng và tha thứ cho nhau. Trong xí nghiệp, cơ quan có sự công bằng trong thưởng, phạt. Trong nhà trường học sinh biết tôn trọng và nghe lời thầy cô giáo. Các thầy cô giáo được đảm bảo đời sống, không phải làm thêm những nghề như rửa bát, bán thuốc lá... như hiện nay. Trong bệnh viện không còn tình trạng bác sĩ sau một ca mổ, một đêm trực mệt nhọc nhưng chỉ được bồi dưỡng một số tiền không đủ ăn một bát phở”.
17 năm sau dấu mốc chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ, có những điều người ta không còn ước nữa. Không phải vì những điều ước đã trở thành hiện thực, mà đơn giản là, những người như Hoài Giang – tác giả bài viết – không còn sống trong hệ quy chiếu của ngày xưa nữa. Bát phở không người lái mà những người sống qua thời bao cấp trân trọng, ngày nay được một số người trẻ Hà Nội quy ra thành một bữa lẩu buffet. Chỉ tiếc, hồi xưa người ta đặt ra một quy chuẩn để vin vào, còn ngày nay thì có nhiều quy chuẩn quá. Cùng ở Hà Nội, những người sau một ca trực đêm có tiền bồi dưỡng không đủ ăn một bữa buffet sống cùng với những người sau một ca trực đêm có tiền bồi dưỡng không đủ ăn một bát phở. Những vấn đề này luôn hiện hữu, những vấn đề này đau nhói, dù trong lòng của những công nhân bị nợ lương ở Đồng Nai hay những ông chủ có vấn đề với cơ quan thuế. Nhưng chỉ đến Tết người ta mới bàn tán về nó một cách rộn ràng.
Tôi không muốn tin rằng tiếng thì thào của người Hà Nội chỉ là những lời nói lạc trong nỗi lo lắng về tương lai, khi ngôi nhà có thể bị san phẳng để xây chung cư, chợ cũ bị thay thế bằng trung tâm mua sắm và cửa hàng tiện lợi, hay xa hơn là nỗi lo về sự thành công theo cách mà Max Weber miêu tả, nơi Chúa bị thay thế bởi các tập đoàn. Hạnh phúc của thế hệ tôi bị “tha hóa” như Karl Marx đã nói, nụ cười của cha mẹ, niềm vui của bữa cơm gia đình bị thay thế bởi cốc cà phê ở Starbucks hay túi xách đắt tiền ở Vincom. Tôi không muốn tin rằng xen lẫn những khu đô thị giàu có là những căn trọ chật hẹp cho người lao động nhập cư. Là những người lao động vất vả bên vỉa hè hay trong nhà máy, những nhân viên văn phòng làm việc 10 tiếng một ngày, sự lo lắng ấy là như nhau. Theo Emile Durkheim, khi chiếc chun đã đứt, người ta sẽ chọn từ bỏ cuộc sống.
Những nỗi lo về tài chính, địa vị, xuất thân vẫn ở đó, bùng lên như cơn lốc những ngày cận Tết khi người ta thi nhau xem cây đào nhà ai to hơn, nhưng tôi không tin nỗi lo ấy là câu chuyện của thế hệ chúng tôi. Từ đây, ý nghĩa của ngày Tết cũng rõ ràng hơn bao giờ hết. Đó là khoảng thời gian để nhìn lại hành trình cuộc đời, mình được gì, mất gì, phải làm gì. Đó là thời gian để trầm tư, hướng về tương lai với ánh sáng rực rỡ. Đó là thời gian ánh sáng ấy đi vào từng tế bào xã hội, nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị cốt lõi, không chỉ của Tết mà của cả sự hiện hữu này. Câu trả lời của tôi là giá trị của sự lạc quan và sự lương thiện. Lạc quan để mong chờ Tết năm sau hạnh phúc hơn, và lương thiện để kiềm chế bản thân không dùng những cách tệ hại để giữ hạnh phúc.
Hà Nội giờ đã khác xưa, nhưng lời ước mùa xuân, hạ, thu hay đông vẫn là một thứ quán tính như Đức Hoàng đã viết. Vì vậy, mong muốn “con người sống vì nhau, tốt hơn, không nhỏ nhen và vụ lợi” có lẽ sẽ còn mãi.
