Mặc dù có nhiều đề xuất về việc 'tái sinh' những loài động vật đã tuyệt chủng, thực tế là chúng ta không thể phục hồi những loài đã biến mất hàng trăm triệu năm trước. Tuy nhiên, với tiến bộ của khoa học hiện đại, việc 'tái sinh' một số loài đã biến mất trong thời gian gần đây hơn, khoảng dưới 800.000 năm, là hoàn toàn khả thi.
Voi ma mút lông cừu: Dự án phục hồi loài
Một điều đáng tiếc là người hiện đại chưa từng chứng kiến một con voi ma mút lông cừu trong thực tế. Vì vậy, một công ty có tên là Colossal đã nhận được 15 triệu đô la từ quỹ tư nhân để thực hiện việc tái sinh loài voi ma mút lông cừu.

Theo báo The New York Times, nhà khoa học hàng đầu của Trường Y Harvard, George Church, đã tiến hành một dự án nhỏ trong hơn một thập kỷ khi họ nhận được sự tài trợ lớn.
Ý tưởng là sử dụng DNA của voi, kết hợp với các gen riêng lẻ, sau đó chỉnh sửa để tạo ra một loài voi có những đặc điểm tương tự như loài voi ma mút lông cừu cổ đại, bao gồm một bộ lông dày và khả năng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện lạnh.
Sư tử hang động: Một sự trở lại đầy nguy hiểm
Sư tử hang động là những thợ săn khổng lồ đã đi khắp châu Âu và châu Á khoảng 10.000 - 12.000 năm trước. Chúng có kích thước lớn hơn so với sư tử ngày nay, cân nặng lên đến 400kg khi trưởng thành, và mồi chính của chúng là gấu hang động. Nguyên nhân gây tuyệt chủng cho sư tử này vẫn còn là một ẩn số, tuy nhiên việc phát hiện ra một số ít xác chết của chúng được bảo tồn tốt đã khiến các nhà khoa học suy đoán về khả năng tái tạo gen để hồi sinh chúng.

Mới đây, hai con sư tử hang động khoảng hai tháng tuổi được phát hiện, được bảo tồn nguyên vẹn, và được đặt tên là Boris và Sparta. Cả hai con được tìm thấy ở gần sông Senyalyakh ở miền đông của Nga, nhưng sống cách nhau khoảng 15.000 năm. Con trẻ hơn trong hai con này, và được xem xét chi tiết hơn về mặt thể chất, là Sparta. Các nhà nghiên cứu sinh vật cổ đã kết luận rằng nó đã chết trong 'thời kỳ đói khát cực độ'.
Chim Moa
Tính đến thời điểm hiện tại, Moa đã tuyệt chủng, một nhóm chim khổng lồ không có khả năng bay, từng sống phong phú trên hành tinh của chúng ta. Loài này đã bị tiêu diệt do việc săn bắn quá mức của con người. Moa bụi nhỏ là một trong chín loài Moa từng tồn tại. Khi các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard tiến hành việc nghiên cứu về sự tuyệt chủng của chúng, họ đã hoàn thiện một bộ gen đầy đủ sử dụng DNA lấy từ xương ngón chân của một con Moa trong một bảo tàng.

Thực tế, việc nghiên cứu DNA của Moa đã đem lại những tiến bộ đáng kể. Do DNA bắt đầu phân hủy sau khi cá thể chết, nó gần như như việc lắp ráp một chiếc bình thủy tinh đã vỡ. Công việc của các nhà khoa học là cố gắng phục hồi nó một cách chính xác.
Rùa đảo Pinta
Hòn đảo Pinta, một phần của quần đảo Galapagos, đã trở thành nạn nhân của hoạt động con người. Năm 1959, ba con dê đã được đưa lên đảo để cung cấp thịt cho người dân. Tuy nhiên, chúng phát triển quá nhanh và số lượng của chúng đã tăng lên đến khoảng 40.000 con vào năm 1970, gây hủy hoại hoàn toàn cả hệ sinh thái của đảo.

Theo thông tin từ Galapagos Conservancy, rùa cái nổi tiếng với tên gọi Lonesome George (như trong hình) đã được chuyển đến khu bảo tồn rùa trên hòn đảo, tuy nhiên sau nhiều nỗ lực tìm kiếm bạn đời mà không thành công, nó đã qua đời vào năm 2012. Được cho là là cá thể cuối cùng của loài rùa này.
Năm 2020, theo báo cáo của NBC, các nhà bảo tồn đã phát hiện một con rùa cái của loài này cùng với 18 con cái khác và 11 con đực, là kết quả của việc lai tạo giữa hai loài rùa đã tuyệt chủng: rùa đảo Pinta (giống như Lonesome George) và rùa đảo Floreana. Người ta cho rằng những con lai này mang trong mình DNA của tổ tiên đã tuyệt chủng của chúng, mở ra cơ hội tái sinh cho loài rùa đảo Pinta.
Bò rừng châu Âu - Aurochs
Aurochs là một loài bò rừng đã tuyệt chủng, được coi là tổ tiên hoang dã của gia súc nhà hiện đại. Với chiều cao vai lên tới 180 cm ở bò đực và 155 cm ở bò cái, nó là một trong những loài động vật ăn cỏ lớn nhất với cặp sừng dài và rộng khổng lồ - dài tới 80 cm.

Loài này có lẽ đã tiến hóa ở châu Á và di cư về phía tây và bắc trong thời kỳ ấm áp giữa các giai đoạn của kỷ băng hà. Hóa thạch lâu đời nhất của loài này được biết đến được tìm thấy ở Ấn Độ và Bắc Phi có niên đại vào kỷ Pleistocen giữa và ở châu Âu vào kỷ Holstein. Như được chỉ ra bởi các di tích hóa thạch ở Bắc Âu, nó đã đến Đan Mạch và miền Nam Thụy Điển trong kỷ Holocen. Tuy nhiên, loài bò rừng này đã bị suy giảm về số lượng trong cuối Holocen do môi trường sống bị thay đổi và bị săn bắn quá mức của con người. Cá thể cuối cùng của loài này chết vào năm 1627 trong rừng Jaktorów ở Ba Lan.
Loài bò rừng này cũng được mô tả trong các bức tranh hang động thời kỳ đồ đá cũ, tranh khắc đá thời kỳ đồ đá mới, các bức phù điêu của Ai Cập cổ đại và các bức tượng nhỏ thời kỳ đồ đồng. Nó tượng trưng cho quyền lực, sức mạnh trong các tôn giáo ở Cận Đông cổ đại.
Hổ Tasmania
Vào ngày 7/9/1936, con hổ Tasmania cuối cùng được biết đến đã qua đời trong vườn thú Beaumaris ở Hobart, Úc.
Tháng trước, Bộ Công nghiệp, Công viên, Nước và Môi trường (DPIPWE) của Tasmania đã tiết lộ một số thông tin cho thấy có người dân Australia đã báo cáo về việc nhìn thấy hổ Tasmania. Trong hai năm gần đây, đã có tám trường hợp được báo cáo, trong đó có một trường hợp vào tháng 7/2019.

Sinh vật này được biết đến với cái tên chó sói Tasmania do hình dạng giống chó và còn gọi là hổ Tasmania do bộ lông màu nâu vàng cùng với dải sọc đen ở phần lưng và đuôi. Tuy nhiên, thực chất chúng là thành viên của họ thú ăn thịt Thylacine.
Các mục tiêu chính của hổ Tasmania thường là kanguru, wombats, và đôi khi cừu và gia súc, điều này đã khiến chúng trở thành mối đe dọa cho những thực dân Anh đến Tasmania vào năm 1803.
Khoảng 130 năm sau, con người cho rằng đã loài hổ Tasmania cuối cùng bị săn bắn đến tuyệt chủng. Tuy nhiên, một số chuyên gia và thợ săn vẫn tin rằng chúng có thể vẫn tồn tại và sống sót ẩn mình ở nơi nào đó.
Khác biệt với hầu hết các loài thú có túi khác, cả hổ đực và cái Tasmania đều có túi. Theo tên khoa học, chúng được gọi là Thylacinus cynocephalus, có nghĩa là 'thú đầu chó có túi'.
Theo nhà khoa học người Mỹ Richard K. Nelson, 'Thylacine là một trong những động vật đặc biệt nhất trên trái đất. Chúng giống như một con chuột túi nhưng đã được tạo hóa để trở thành một con sói'.
Hổ Tasmania có đuôi giống như chuột túi, chân ngắn và hàm có từ 40 đến 50 chiếc răng sắc nhọn. Tuổi thọ của chúng có thể lên đến 7 năm ngoài tự nhiên.
Đây là loài vật có thói quen săn mồi đơn độc và thường hoạt động vào ban đêm. Chúng liên lạc với nhau bằng cách kêu 'giống như tiếng sủa của chó sục', theo thông tin từ Chính phủ Tasmania.
Tham khảo: New Zealand Birds Online; New Zealand Herald; Galapagos Conservancy; NBC
