
Đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor là gì?
Đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor là một đường cong tỷ lệ suất được xây dựng dựa trên tỷ lệ ngay thì của Trésor thay vì tỷ suất. Đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor là một tiêu chuẩn hữu ích để định giá trái phiếu. Loại đường cong này có thể được xây dựng từ trái phiếu Trésor on-the-run, off-the-run hoặc sự kết hợp của cả hai. Tuy nhiên, phương pháp dễ nhất là sử dụng tỷ lệ suất của trái phiếu Trésor zero-coupon. Tính toán tỷ lệ suất của một trái phiếu zero-coupon khá đơn giản và nó tương đương với tỷ lệ ngay thì của trái phiếu zero-coupon.
NHỮNG ĐIỀU CẦN NHỚ
- Đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor là một đường cong tỷ lệ suất được xây dựng dựa trên tỷ lệ ngay thì của Trésor thay vì tỷ suất.
- Các tỷ lệ ngay thì thực tế cho các trái phiếu Trésor zero-coupon được liên kết để tạo thành đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor.
- Để định giá một trái phiếu một cách chính xác, việc phù hợp và chiết khấu từng khoản thanh toán lãi với điểm tương ứng trên đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor là thực hành tốt.
- Một trái phiếu cổ phiếu có thể được coi là một bộ sưu tập của các trái phiếu zero-coupon, trong đó mỗi khoản lãi phiếu là một trái phiếu zero-coupon nhỏ mà khi nó chấm dứt khi người nắm giữ trái phiếu nhận được phiếu lãi.
Hiểu về Đường cong Tỷ lệ ngay thì của Trésor
Trái phiếu có thể được định giá dựa trên tỷ lệ ngay thì của Trésor thay vì tỷ suất Trésor để phản ánh các dự đoán của thị trường về sự thay đổi lãi suất. Khi các tỷ lệ ngay thì được xác định và vẽ trên đồ thị, đường cong kết quả là đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor.
Tỷ suất ngay thì là giá được công bố cho việc thanh toán trái phiếu ngay lập tức, vì vậy việc định giá dựa trên tỷ suất ngay thì xem xét các thay đổi dự kiến trong điều kiện thị trường. Lý thuyết, tỷ suất ngay thì hoặc lợi suất cho một khoản thời hạn cụ thể đến đáo hạn là giống như lợi suất trên trái phiếu zero-coupon có cùng thời hạn đáo hạn.
Đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor cung cấp tỷ suất đến đáo hạn (YTM) cho một trái phiếu zero-coupon được sử dụng để chiết khấu dòng tiền vào đáo hạn. Phương pháp lặp lại hoặc bootstrap được sử dụng để xác định giá của một trái phiếu trả cổ tức. YTM được sử dụng để chiết khấu cho khoản thanh toán lãi phiếu đầu tiên tại tỷ suất ngay thì cho thời hạn của nó. Khoản thanh toán lãi phiếu thứ hai sau đó được chiết khấu tại tỷ suất ngay thì cho thời hạn của nó, và tiếp tục như vậy.
Trái phiếu thường có nhiều khoản thanh toán lãi phiếu tại các điểm khác nhau trong suốt thời gian tồn tại của trái phiếu. Vì vậy, không hợp lý lý thuyết để sử dụng chỉ một lãi suất để chiết khấu tất cả các dòng tiền. Để định giá một trái phiếu một cách chính xác, việc phù hợp và chiết khấu từng khoản thanh toán lãi phiếu với điểm tương ứng trên đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor là điều quan trọng. Điều này cho phép chúng ta định giá giá trị hiện tại của mỗi lãi suất.
Một trái phiếu cổ phiếu có thể được coi như là một bộ sưu tập của các trái phiếu zero-coupon, trong đó mỗi lãi suất là một trái phiếu zero-coupon nhỏ mà khi nó chấm dứt khi người nắm giữ trái phiếu nhận được lãi suất. Tỷ suất ngay thì chính xác cho trái phiếu trái phiếu là tỷ suất ngay thì cho một trái phiếu zero-coupon Trésor mà chấm dứt vào cùng thời điểm mà một lãi suất được nhận. Mặc dù thị trường trái phiếu Trésor rộng lớn, dữ liệu thực tế không có sẵn cho tất cả các điểm trong thời gian. Các tỷ suất ngay thì thực tế cho các trái phiếu zero-coupon Trésor được kết nối để tạo thành đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor. Đường cong tỷ lệ ngay thì của Trésor sau đó có thể được sử dụng để chiết khấu các khoản thanh toán lãi suất.
Một trái phiếu cổ phiếu có thể được coi như là một bộ sưu tập của các trái phiếu zero-coupon, trong đó mỗi lãi suất là một trái phiếu zero-coupon nhỏ mà khi nó chấm dứt khi người nắm giữ trái phiếu nhận được lãi suất.
Ví dụ về Đường cong Tỷ lệ ngay thì của Trésor
Ví dụ, giả sử một trái phiếu có lãi suất 10% kéo dài hai năm với giá trị thẻ trị giá $100 được định giá bằng tỷ suất ngay thì của Trésor. Các tỷ suất ngay thì của Trésor cho bốn giai đoạn tiếp theo (mỗi năm gồm hai giai đoạn) lần lượt là 8%, 8.05%, 8.1% và 8.12%. Bốn dòng tiền tương ứng là $5 (tính toán là 10% / 2 x $100), $5, $5, $105 (thanh toán lãi suất cộng với giá trị vốn lúc đáo hạn). Khi chúng ta vẽ các tỷ suất ngay thì theo thời hạn đáo hạn, chúng ta có được đường cong tỷ lệ ngay thì hoặc đường cong zero.
Sử dụng phương pháp bootstrap, số giai đoạn sẽ được chỉ định là 0.5, 1, 1.5 và 2, trong đó 0.5 là giai đoạn 6 tháng đầu tiên, 1 là giai đoạn thứ hai tích lũy 6 tháng và cứ tiếp tục như vậy.
Giá trị hiện tại cho mỗi dòng tiền tương ứng sẽ là:
Điều quan trọng cần lưu ý rằng giá trị hiện tại của từng luồng tiền tương ứng sẽ là:
Trong lý thuyết, trái phiếu nên có giá là $103.71 trên thị trường. Tuy nhiên, đây không nhất thiết là giá mà trái phiếu sẽ cuối cùng được bán ra. Các tỷ lệ spot rate được sử dụng để định giá trái phiếu phản ánh các tỷ lệ từ các trái phiếu Chính phủ không có rủi ro vỡ nợ. Vì vậy, giá của trái phiếu doanh nghiệp sẽ cần phải được chiết khấu thêm để tính đến rủi ro tăng cao so với các trái phiếu Chính phủ.
Chú ý rằng đường cong lãi suất spot Treasury không phải là chỉ số chính xác của lợi suất trung bình trên thị trường vì hầu hết các trái phiếu không phải là trái phiếu không kỳ hạn.
