Loài tê giác cổ đại này được gọi là Embolotherium, chúng sống ở Mông Cổ và các khu vực khác ở Đông Á, với hầu hết các hóa thạch được tìm thấy ở sa mạc Gobi.
Hóa thạch đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người hiểu về quá khứ. Với Trái Đất có tuổi ước tính khoảng 4,543 tỷ năm, sự phát triển đa dạng của sự sống đã làm cho hành tinh này trở nên đặc biệt.
Năm sự kiện tuyệt chủng đã diễn ra trên Trái Đất, xóa sổ nhiều loài, nhưng may mắn là hóa thạch của chúng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử phong phú của sự sống.
Bài viết này sẽ giới thiệu về một loài tê giác cổ đại tên là Embolotherium, đã tuyệt chủng, còn được biết đến với tên gọi 'Quái thú sấm sét'. Một số người có thể nói rằng loài này giống như một tê giác bất thành với cái đầu có hình dạng độc đáo, nhưng vẫn còn nhiều điều thú vị để khám phá về chúng.

Trong số tất cả các loài tê giác cổ đại, Embolotherium là loài có 'sừng' đặc biệt nhất, giống như một chiếc khiên phẳng được gắn lên từ mũi của chúng.
Embolotherium là một dạng động vật đã tuyệt chủng, tên gọi của nó được dịch từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là 'Quái thú sấm sét'. Chúng sống vào cuối kỷ Eocene ở Đông Á.
Tên của loài này liên quan đến phần nhô ra từ hộp sọ, khiến chúng trông giống như một phiên bản 'lỗi' của tê giác hiện đại. Tuy nhiên, chúng có mối quan hệ họ hàng xa với các loài động vật như ngựa, heo và tê giác hiện đại.
Embolotherium là một loài động vật có vú cổ đại vô cùng lớn, chỉ được biết đến qua những tàn tích hóa thạch không hoàn chỉnh. Hiện tại, chỉ có hai loài thuộc chi này được phát hiện là Emblotherium andrewsi và Embolotherium grangeri.

Embolotherium là một loài động vật có vú cổ đại vô cùng lớn, chỉ được biết đến qua những tàn tích hóa thạch không hoàn chỉnh.
Mặc dù không có hóa thạch hoàn chỉnh của Embolotherium, nhưng có nhiều bằng chứng hỗ trợ cho nghiên cứu sâu hơn về loài động vật cổ đại này. Năm 1928, trong hệ tầng Ulan Gochu ở Nội Mông, Trung Quốc, các hóa thạch đầu tiên của Embolotherium đã được phát hiện.
Được tài trợ bởi Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ, nhà thám hiểm người Mỹ Roy Chapman Andrews và nhà cổ sinh vật học Walter W. Granger đã dẫn đầu một cuộc thám hiểm vào Trung Quốc để khám phá các hóa thạch của các loài động vật cổ xưa.
Các hàm và hộp sọ hóa thạch khác của Embolotherium đã được phát hiện trong Hệ tầng Baron Sog và Hệ tầng Shara Murun. Hóa thạch của loài này chỉ được biết đến ở Đông Á, bao gồm cả những phát hiện trong sa mạc Gobi.
Vì chúng là loài động vật thuộc họ Brontotheriidae, các loài động vật khác như Megacerops từ Bắc Mỹ đã giúp các nhà khoa học mô tả về Embolotherium. Ban đầu, có hơn một chục loài Embolotherium được liệt kê, nhưng các nghiên cứu sau này đã cắt giảm số lượng loài xuống chỉ còn hai.

Cấu trúc 'sừng' độc đáo này có thể được sử dụng để tạo ra sự khác biệt trong vẻ ngoài (càng to càng thu hút sự chú ý của con cái) hoặc để truyền âm thanh.
Mặc dù không có hóa thạch hoàn chỉnh nào của Embolotherium được tìm thấy, nhưng dựa vào dữ liệu đã biết về các loài Brontotheriidae khác như Megacerops, các nhà khoa học có thể ước tính kích thước của chúng.
Embolotherium được ước tính có chiều cao khoảng 2,5 mét và chiều dài lên tới 5 mét, ước tính chúng có thể nặng khoảng 2 tấn. Phần xương phát triển lớn nhô ra khỏi mặt dài khoảng 70 cm.
Các mô tả về loài động vật này cho thấy chúng rất giống với tê giác hiện đại, nhưng chúng có xương mũi phát triển lớn thay vì sừng.
Có giả thuyết rằng tấm sừng phía trước của chúng có thể đã được sử dụng như một bộ khuếch đại âm thanh. Tất cả các mẫu vật đã được biết đến của chúng đều có xương mũi phát triển thành một tấm lớn.

Embolotherium sống vào cuối kỷ nguyên Eocene ở Đông Á.
Embolotherium sống ở Mông Cổ và các khu vực khác ở Đông Á, với hầu hết các hóa thạch được tìm thấy ở sa mạc Gobi. Loài này sống vào Kỷ Eocene, từ khoảng 41 đến 34 triệu năm trước.
Trong thời kỳ này, sa mạc Gobi có cảnh quan khác biệt so với ngày nay. Với thảm thực vật phong phú giống môi trường sống ẩm ướt hơn là khô cằn như hiện tại.
Răng của Embolotherium cho thấy chúng là động vật ăn cỏ, có răng cắt thay vì mài. Do đó, chúng thích ăn những loại thực vật thân mềm, môi trường sống vùng đất ngập nước với nhiều thực vật mềm là nơi lý tưởng cho chúng.
Mặc dù có kích thước khổng lồ và phát triển mạnh mẽ trong kỷ Eocene, Embolotherium đã tuyệt chủng vào cuối kỷ Eocene do biến đổi khí hậu. Cuối thế Eocene, khu vực châu Á mà chúng sống trở nên khô hạn hơn, và thảm thực vật mềm đã bị thay thế bằng thực vật khô cứng.
Những thực vật mềm mà chúng ăn đã bị thay thế bằng những thực vật khô hơn, cứng hơn, làm cho chúng khó ăn hơn. Trong khi các loài động vật khác đã cố gắng thích nghi, Embolotherium không thể làm điều đó và đã dẫn đến tuyệt chủng.
Nguồn: Animalia; Unbelievable; ZME
